Home
» 14-chinh-dieu
» luu-tru-blog
» thien-dong
» tu-vi-tinh-quyet
» Tính chất của sao Thiên Đồng và cách cục cơ bản
Tính chất của sao Thiên Đồng và cách cục cơ bản
Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2019
TÍNH
CHẤT CỦA SAO THIÊN ĐỒNG VÀ CÁCH CỤC CƠ BẢN (THEO TRUNG CHÂU TAM HỢP PHÁI – VƯƠNG ĐÌNH CHI)
1. Tổng quát về sao Thiên Đồng
Thiên Đồng miếu ở ba cung Mão, Tị, Hợi; hãm ở ba cung Sửu Ngọ
Mùi.
Thiên Đồng là sao thứ tư của Nam Đẩu, thuộc dương thủy, Hóa
khí là “phúc'.
Trong Đẩu số, Thiên Đồng được ví là vị thần chuyên trông coi
việc ăn uống, sắp xếp yến tiệc cho hoàng đế, vì vậy đặc tính của nó là hưởng thụ,
khuyết điểm là lãng phí và nhu nhược.
Có một khái niệm khá phổ biến, cho rằng “Thiên Đồng ở trong
12 cung đều là phúc trạch”, thực ra không phải vậy. Theo Vương Đình Chi, thậm
chí có thể nói, Thiên Đồng ở 12 cung đều có khuyết điểm.
Nói về cung mệnh, người có Thiên Đồng thủ mệnh, cát thì chủ về
khiêm tốn, thông minh mẫn tiệp, phong thái cao thượng thanh nhã; nếu hung thì
chủ về chìm đắm trong dục lạc, hay do dự, thiếu quyết đoán, hoặc chỉ có kế hoạch
tốt mà không thực hiện.
Thiên Đồng úy kị tính cứng rắn, hình khắc của Hỏa Tinh và
Linh Tinh, nhưng lại không sợ Kình Dương. Đồng độ hoặc hội hợp với Kình Dương ở
cung Ngọ, gọi là “Mã đầu đới tiễn”, trái lại, sẽ chủ về có thể nắm đại quyền
trong quân đội hay cảnh sát.
Thiên Đồng ở cung Hợi không ưa Hóa Kị. Nếu can của cung Hợi
Hóa Kị, lại hội tứ sát Địa Không Địa Kiếp và Thiên Hình, thì chủ về hình khắc
cô độc, hoặc bị tai nạn bệnh tật làm tổn thọ.
Rất ưa tọa cung Tuất gặp Cự Môn Hóa Kị ở đối cung (tức cung
Thìn), gọi là “phản bối”; được Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc hội hợp, là hết cơn bĩ cực
đến hổi thái lai, biến thành mệnh đại quý.
Nữ mệnh Thiên Đổng, cuộc sống thường sung túc, nhưng dễ cảm
thấy tinh thần trống rỗng. Cho nên cổ nhân cho rằng “nữ mệnh Thiên Đồng cư Tị Hợi
nhập miếu, thì đẹp mà dâm” Luận đoán này là suy diễn ra từ tính chất tinh thần
trống rỗng. Ở phương diện sự nghiệp hoặc phương diện sở thích, nếu có thể làm
cho sinh hoạt tinh thẩn trở nên phong phú thì vẫn tránh được, đời sống hôn nhân
sẽ, được vui vẻ.
Phàm Thiên Đồng đóng ở cung mệnh, hoặc ở cung phúc đức, chỉ
cần không có Hóa Kị, phần nhiều chủ về có tài năng âm nhạc, hoặc ưa thích cái đẹp,
do đó chẳng khó tìm nơi để kí thác về phương diện tinh thần.
Bất kể nam nữ, nếu Thiên Đồng thủ mệnh, gặp sao sát, hình
thì trái lại, có thể có năng lực khai sáng, mà không sầu muộn về phương diện tinh
thần. Nếu chỉ gặp sao cát mà không gặp các sao sát, hình, thì trái lại dễ chìm
đắm trong lạc thú, trở thành phóng đãng. Đây giống như thời xưa, Hoàng đế không
có trung thần can gián, lại không gặp họa loạn, dễ vì lời sàm tấu của nịnh thần
mà biến thành hôn quân.
2. Tổng luận về Thiên Đồng.
Như chúng ta đã biết, Thiên Đồng là sao thứ
tư của Nam Đẩu, thuộc dương thủy. Trong Đạo giáo có thuyết "Nam Đẩu
chủ về sinh, Bắc Đẩu chủ về Tử ", cho nên các sao Nam Đẩu mang nhiều
hòa khí, còn các sao Bắc Đẩu thì có nhiều sát khí. Thiên Đồng là sao Nam Đẩu,
mà còn là sao có nhiều hòa khí nhất trong Nam Đẩu, nên cổ nhân gọi là "sao
giữ mạng sống và thêm phúc " (ích phúc bảo sinh chi tinh).
Thiên Đồng hóa khí làm "phúc". Nhưng
"phúc" ở đây lại không phải là phúc do trời ban, mà thường thường là
phải trải qua bao trở ngại rồi mới được yên ổn và hưởng thụ. Cho nên Thiên Đồng
tương tự như Thiên Lương, Thiên Lương chủ về "Ấm" (che chở), nhưng cần
phải có tai nạn xảy ra, rồi mới hóa giải trong vô hình; hoặc biến tai họa trọng
đại thành tai ách nhẹ, gọi là "ấm" (che chở). "Phúc" của
Thiên Đồng có sắc thái trước nghèo sau phúc, trước không có sau có, do đó thường
thường cũng tượng trưng cho một đoạn đời gian khổ.
Cổ nhân nói: "Thiên Đồng trong 12 cung đều là
phúc", chúng ta cần phải hiểu rõ định nghĩa của "phúc" trong
câu này.
Người xưa luận Thiên Đồng, thường ví nó với vị quan chuyên
lo việc yến ẩm vui chơi của hoàng đế. Vì vậy đặc tính khác của Thiên Đồng là hưởng
thụ.
Trong Đẩu Số, các sao chủ về hưởng thụ tổng cộng có 4 (bốn)
sao, gồm Thiên Đồng, Liêm Trinh, Tham Lang, Thiên Lương. Liêm Trinh và Tham
Lang là một cặp, so sánh thì Liêm Trinh nặng về tinh thần, Tham Lang nặng về vật
chất. Thiên Đồng và Thiên Lương là một cặp, so sánh thì Thiên Lương nặng về
tinh thần, Thiên Đồng nặng về vật chất.
Nhưng hai cặp "Liêm Trinh, Tham Lang" và
"Thiên Đồng, Thiên Lương" lại có sự phân biệt. "Liêm Trinh, Tham
Lang" mang sắc thái đào hoa, do đó thiên nặng về ham mê tửu sắc;
"Thiên Đồng, Thiên Lương" thì thanh nhã hơn, do đó thiên nặng về
phong hoa tuyết nguyệt.
Cũng chính vì vậy mà, tuy Thiên Đồng có tính thiên về hưởng
thụ vật chất, nhưng lại không giống như Tham Lang có thể tích cực chủ động
tranh thủ, vì vậy nó có biểu hiện mềm yếu hơn, đồng thời hơi lãng phí.
Cổ nhân không ưa Thiên Đồng tọa nữ mệnh, là do nguyên nhân
này. Thời cổ đại người ta không ưa phái nữ có tính cương, nhưng lại cần phải có
đức tính trinh liệt, mà Thiên Đồng thì chìm đắm trong hưởng thụ, lãng phí, mà lại
mềm yếu, thế là biến thành tinh thần trống rỗng, thời xưa những tính cách này
trùng hợp với bản chất của tì thiếp. "Đẹp mà dâm" là đánh giá phổ biến
của cổ nhân đối với trường hợp Thiên Đồng tọa nữ mệnh.
Do Thiên Đổng mềm yếu, nhưng lại có bản năng "hóa
phúc"; do đó ở trong những tình hình thích đáng, nên gặp sát tinh để thêm
vào đó sự kích thích, hoặc gặp "Hóa Kị" để thêm vào đó sự kích phát.
Xin bạn đọc chú ý, cần phải ở trong tình hình thích đáng, chứ chẳng phải hễ
Thiên Đồng gặp các sao sát kị đều thành kết cấu tốt.
Cổ nhân có các thuyết, "Thiên Đồng và Kình Dương đồng
cung, thân thể bị thương", "Thiên Đồng và Thái Âm cùng thủ mệnh ở
cung Ngọ, hội hợp với tứ sát tình, thì chủ về tàn tật, cô độc và hình khắc".
Đây là chứng minh chẳng phải lúc nào Thiên Đổng cũng ưa gặp sát tinh.
Trong tình hình
nào thì Thiên Đổng thích sát tinh?
Thiên Đồng có sao lộc thì không sợ sát tinh đến xâm hại.
Thích nhất là Hóa Lộc. Thực ra cổ nhân đã có luận định về trường hợp này, Hóa Lộc
là "thiện", gặp cát tinh là "tường" (điềm lành).
Nếu không Hóa Lộc mà gặp Lộc Tổn, có tứ sát tinh cùng bay đến
chiếu, thì cũng không phải là cách cục tốt. Có Hóa Lộc kềm chế rồi mới ưa kích
phát.
Thiên Đổng hội các sao cát, cũng không sợ hội họp với sát
tinh. Rất nên có Văn Xương, Văn Khúc mà gặp sát tinh. Bởi vì Văn Xưong, Văn
Khúc làm tăng sự thông minh tài trí của Thiên Đồng. Người thích hưởng thụ mà
thông minh tài trí, tính cách càng dễ trở thành mềm yếu, tình thần càng dễ
trông rỗng, lúc này lại thích có sát tính kích phát.
Cho nên Thiên Đồng ở trong các tinh hệ thuộc loại "Mã đầu
đới kiếm", tức Thiên Đồng và Thái Âm ở cung Ngọ có Kình Dưomg đồng độ, người
sinh năm Bính Tuất mới đúng cục. Năm Bính, Thiên Đồng Hóa Lộc; năm Mậu, Thái Âm
là sao tiền tài Hóa Quyền, đều có ý vị sao lộc gặp sát tính.
Ngoại trừ những trường hợp ưa sát tinh, trong tình hình
thích đáng Thiên Đổng cũng ưa gặp sao kị. Đây là cách cục "phản bối"
của tinh hệ Thiên Đồng, có kết cấu Thiên Đổng độc tọa cung Tuất, người sinh năm
Đinh là Hóa Quyền; gặp Thái Âm Hóa Lộc, Thiên Cơ Hóa Khoa ở cung sự nghiệp; Hóa
Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội hợp, khiến cho sự chìm đắm trong hưởng thụ của
Thiên Đổng biến thành mềm yếu, nhưng ở đối cung lại có Cự Môn Hóa Kị đến xung,
trở thành sức mạnh kích phát, đây gọi là "qua cơn mưa trời lại sáng",
biến thành cách cục đại quý.
Thiên Đồng ưa Thiên Khôi, Thiên Việt, bởi vì chủ về cuộc đời
gặp nhiều cơ hội. Có Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, tuy có nhiều trợ lực, nhưng có thể
làm tăng tính ỷ lại. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì nên đồng thời gặp Kình Dương;
gặp Hóa Lộc thì không sợ sát tinh xâm phạm, quấy nhiễu; gặp tam cát hóa thì ưa
Hóa Kị, đây là đặc tính của Thiên Đồng.
Thiên Đồng không ưa ở trong tình huống Thiên Mã, Thiên Đồng
và Thiên Lương đồng độ, hoặc Thiên Đồng đối chiếu với Thiên Lương. Bởi vì Thiên
Đồng và Thiên Lương nhân sinh quan đã có sắc thái thiếu tích cực, còn gặp thêm
Thiên Mã, thì tính trôi nổi, hiếu động sẽ không có căn cơ, biến thành thuần lí
tưởng mà thiếu thực tế.
Thiên Đồng cũng không ưa Hỏa Tinh, không ưa nhất là Linh
Tinh. Hai sát tinh này có tính cứng rắn, tương phản với tính do dự,
thiếu quyết đoán của Thiên Đồng; khí chất hai bên xung đột,
vì vậy phần nhiều chủ về gặp nghịch cảnh.
Phân bố trong 12 cung, Thiên Đồng tất nhiên sẽ đồng độ hoặc
đối chiếu với ba sao Thái Âm, Cự Môn, Thiên Lương.
Ở bốn cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu là tổ hợp "Thiên Đồng,
Thái Âm"; ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là tổ hợp "Thiên Đồng, Cự
Môn"; ở bốn cung Dần, Thân, Tị, Hợi, là tổ hợp "Thiên Đồng, Thiên
Lương".
Ngoại trừ hai cách cục đặc biệt "Mã đầu đới kiếm"
và "phản bối" thuật ở trên, thông thường, trường hợp "Thiên Đồng,
Thiên Lương" ở hai cung Dần hoặc Thân là bình ổn nhất, chỉ cần gặp
"cát hóa" (bất kể là Hóa Lộc, Hóa Quyền hay Hóa Khoa), hoặc có Lộc Tồn
đồng độ hay đối nhau, đều chủ về cuộc đời phát triển một cách bình ổn, không có
sóng gió gì lớn.
Trái lại, trong tình hình Thiên Đồng gặp các sao sát kị, dù
cấu tạo thành cách cục tốt, ắt cũng chủ về phải trải qua gian nguy trước rồi mới
phát phúc sau, hoặc cuộc đời ít gặp cơ hội ngồi không mà hưởng.
3. Biệt luận về sao Thiên Đồng
- Thiên Đồng có phải là phúc tinh không?
Trong Tử Vi Đẩu Số có một sao rất dễ bị người ta hiểu lầm,
đó là Thiên Đồng.
Các sách Đẩu Số thông thường hay gọi Thiên Đồng là "sao
phúc", ấn tượng này khiến người ta quá xem trọng phúc khí của Thiên Đồng.
Cổ thư nói: "Thiên Đồng thủ mệnh thì phúc tự nhiên sâu dầy, không
sợ các sao hình, sát, kị xâm phạm", càng làm cho người ta hiểu lầm nặng
thêm về tính chất của Thiên Đồng. Trên thực tế, sao này có rất nhiều khuyết điểm.
Thực ra nếu nghiên cứu cẩn thận, tỉ mỉ tất cả các ca quyết
và luận giải có liên quan đến Thiên Đồng, người ta sẽ biết khuyết điểm của nó ở
đâu. Cổ thư nói: "Thiên Đồng và Kình Dương đồng cung, thân thể bị
thương"; "Thiên Đồng đồng cung với Thái Âm, nữ mệnh tuy đẹp nhưng ắt
sẽ dâm"; "Nữ mệnh Thiên Lương và Thiên Đồng, nên làm nhị phòng hay tì
thiếp."
Tuy cổ nhân tiết lộ không nhiều về khuyết điểm của Thiên Đồng,
nhưng cũng có thể thấy Thiên Đồng không phải là hoàn toàn không sợ sát tinh như
các sao Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Thiên Hình, Hóa Kị. Người xưa
thích giấu nghề, không chịu công khai toàn bộ, cho nên chỉ tiết lộ khuyết điểm
của Thiên Đồng khi có Kình Dương tương hội. Thuyết "Thiên Đổng không sợ
các sao hình, sát, kị xâm phạm" là cổ nhân tự mâu thuẫn với chính mình, đã
hé mở cánh cửa cho người đời sau nghiên cứu.
Vương Đình Chi kể, lúc ông xem tinh bàn cho một vị độc giả của
mình, đã hỏi: "Ông muốn tự sát hả?" Vị độc giả này lập tức bật khóc,
nói đúng là mình đã từng có ý định tự sát, chỉ vì muốn tìm Vương Đinh Chi để nhờ
đoán mệnh, xem hậu vận như thế nào, mới tạm hoãn quyết định. Nghe câu trả lời
này, Vương Đình Chi toát mồ hôi lạnh.
Theo Mẫn phái, Thiên Đồng không Hóa Kị, nhưng Trung Châu
phái lại cho rằng Thiên Đồng có thể Hóa Kị. Nhờ đoán mệnh cho vị độc giả kể
trên mà Vương Đình Chi cho rằng thuyết của phái Trung Châu hợp lí hơn. Nếu đúng
là "sao phúc" thì không sợ Hóa Kị, thực ra Thiên Đồng ở 12 cung đều
có khuyết điểm, thậm chí ngay cả ở cung phúc đức cũng sẽ khiến cho mệnh tạo có
tinh thần tiêu cực.
- Ba tổ hợp Thiên Đồng
Thiên Đồng ở trong 12 cung, có 6 cách phối hợp, bị ba sao
gây ảnh hưởng, như sau:
- Ở
cung Tí, cung Ngọ, Thiên Đồng đồng cung với Thái Âm.
- Ở
cung Mão, cung Dậu, Thiên Đồng đối nhau vói Thái Âm.
- Ở
cung Sửu, cung Mùi, Thiên Đồng và Cự Môn đổng cung.
- Ở
cung Thìn, Cung Tuâ't, Thiên Đồng đối nhau với Cự Môn.
- Ở
cung Dần, cung Thân, Thiên Đồng và Thiên Lương đổng cung.
- Ở
cung Tị, cung Hợi, Thiên Đồng đối nhau với Thiên Lương.
"Tí Ngọ Mão Dậu" là cung đào hoa, ở
đây cũng ảnh hưởng đến tính chất của Thiên Đồng, cho nên cổ nhân cho rằng nữ mệnh
gặp phối hợp này thì "tuy đẹp mà dâm". Trong đó, nếu lại đồng cung với
Thái Âm thì tình hình này khá nặng; nếu ốôi nhau với Thái Âm thì mức độ có thể
giảm nhẹ.
"Thìn Tuất Sửu Mùi" là cung Tứ Mộ,
nhưng Cự Môn lại lạc hãm ở cung Tứ Mộ ( cổ ca: "đất Mộ nên ngại hãm Cự
Môn."), cho nên cũng ảnh hưởng đến Thiên Đồng đồng cung với nó, hoặc Thiên
Đồng đối nhau với nó.
"Dần Thân Tị Hợi" là cung Tứ Trưởng
Sinh, rất có lợi đối với Thiên Đồng, có thể làm tăng "phúc trạch" của
nó, nhưng trong đó có một kết cấu nguy hiểm, tinh bàn của vị độc giả mà Vưong
Đình Chi đã kế ở trên là thuộc kết cấu này. Kết cấu này rất nhiều lúc lại không
sợ gặp các sát, hình, kị, mà lại sợ một số cát tinh. Lí lẽ của nó rất là vi diệu.
Kết câu này còn có một đặc điểm nữa là, không nên là nữ mệnh, nữ mệnh gặp Thiên
Đồng và Thiên Lưong, nhiều lúc sẽ biến thành "phòng không chiếc
bóng", cho nên cũng dễ sa chân lõ bước, nhưng nhât định thông minh hơn người.
Nhưng khi phối hợp vói một hai tá diệu hoặc tạp diệu, có thể xảy ra thay đổi rất
lớn, nhiều lúc chủ về là người thông minh mà trinh liệt, cho nên gặp nữ mệnh
"Thiên Đồng, Thiên Lương" phải luận đoán thật cẩn thận.
Tử Kỳ Lân
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái.
Bài liên quan

Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét