Quẻ Càn
Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2019
Quẻ Càn
Quẻ Càn, một trong 8 quẻ do
ba vạch dương tạo thành, nghĩa là 'kiện' (mạnh, khỏe), vật tượng trưng cơ bản của
nó là Trời (thiên). Quẻ Càn dùng ba vạch dương chồng lên nhau để ví với hình tượng
của trời; căn cứ để lấy dụ tượng thì giống như sách Hoài nam tử - Thiên
văn huấn đã nói: "Vũ trụ sinh ra khí, khí có bờ cõi giới hạn, khí
dương trong thì bay bổng mà thành trời".
Một trong 64 quẻ, là quẻ thứ nhất trong
Kinh, do hai quẻ Càn ba vạch chồng lên nhau mà thành, đứng đầu 64 quẻ, lấy trời
làm vật tương trưng cơ bản, tượng trưng cho tác dụng bản chất của nguyên tố
'dương cương cường kiện', sẵn có khí chất khai sáng cùng quy luật phát triển biến
hóa của nó.
Lời quẻ: Càn
tượng trưng cho trời, nguyên thủy, hanh thông, hài hòa có lợi, trinh chính kiên
cố.
[Càn, nguyên, hanh, lợi, trinh.]
Giải: Chu
dịch bản nghĩa - Chu Hy nói: "Phục Hy ngẩng xem cúi xét thấy âm
dương có số chẵn lẻ, nên vẽ một vạch lẻ (tức vạch liền) để tượng trưng cho
Dương; vẽ một vạch chẵn (tức vạch đứt) để tượng trưng cho âm; thấy một âm một
dương có tượng đều sinh một âm một dương, cho nên từ dưới mà lên, thêm hai lần
nữa mà thành ba, để thành 8 quẻ. Thấy tính của Dương cương kiện mà thành hình
to lớn là trời, cho nên dùng hình vẽ ba vạch lẻ mà gọi là Càn để ví với trời".
Chu dịch chính nghĩa -
Khổng Dĩnh Đạt nói: "Quẻ Càn này vốn để tượng trưng cho trời đất, chính là
tích cóp các khí dương lại mà thành". Lại nói: "Tử hạ truyện nói:
Nguyên tức là thủy (đầu tiên), Hanh nghĩa là thông, Lợi nghĩa là hòa, Trinh
nghĩa là chính". Ý nói đức của quẻ Càn có tính thuần dương, tự nhiên có thể
dùng khí thuần Dương mà bắt đầu sinh ra muôn vật và được nguyên thủy, hanh
thông, có thể khiến cho vật tính hài hòa, thảy đều có lợi, lại có thể khiến cho
vật kiên cố trinh chính được đến cùng.
Căn cứ vào ý nghĩa nội tại của
Lời quẻ, có thể thấy tác giả Kinh Dịch thông qua sự quan sát trực cảm đối với
thế giới tự nhiên, cho rằng: trời thể hiện 4 đức tính: Nguyên thủy (đầu tiên),
hanh thông, hài hòa có lợi, trinh chính kiên cố. Sở dĩ như vậy là vì nguyên tố
bản chất của trời là khí Dương vô cùng cương kiện, Khí dương này 'vận hành chẳng
nghỉ, biến hóa vô cùng', theo bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông mà tuần hoàn qua lại, chế
ước, chi phối tất cả thế giới tự nhiên. Chu dịch Thượng thị học của
Thượng Bỉnh Hòa đã căn cứ vào thuyết trong Thái huyền kinh, đem bốn
mùa phối hợp với bốn đức của Càn, thể hiện hết mức quy luận vận hành của Khí
dương. Do đó quẻ Càn ca ngợi Trời, thực ra là ca ngợi Đức của dương cương.
Sự giải thích đối với bốn chữ
"Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh" trong Lời quẻ như Chu Hy giải thích, chữ
Nguyên là Đại (lớn), chữ Lợi là Nghi (nên), rồi đọc là "Nguyên hanh, lợi
trinh", và ông cho rằng nghĩa của chúng là: "Đại thông và ắt lợi ở sự
trinh chính kiên cố" (đại thông nhi tất lợi tại chính cố). Song ông vẫn
cho rằng thuyết 'tứ đức' của Tử hạ truyện là tương đối thông
hành.
Lý Đỉnh Tộ giảng:
"Theo Thuyết quái, Càn tức là Kiện (mạnh mẽ). Thiên là 'thể'
mà Kiện là 'dụng', vận hành không ngừng, biến hóa vô cùng, thánh nhân đặt làm
nguyên tắc, muốn cho hậu nhân noi theo cái 'dụng' của thiên, nên mới đặt tên là
Càn".
Càn là trời, là hình thể của trời, Kiện
là tính tình của trời, mạnh mẽ mà không ngừng nghỉ thì gọi là Kiền. Lấy hình thể
mà nói là trời, lấy chúa tể mà nói là vua, lấy công dụng mà nói là quỷ, lấy diệu
dụng mà nói là thần, lấy tính tình mà nói là kiền. Nguyên là sơ thủy của muôn vật
(Nguyên giả vạn vật chi thủy). Hanh là sức lớn của muôn vật (Hanh giả vạn vật
chi trưởng). Lợi là cái thỏa chí của muôn vật (Lợi giả vạn vật chi toại). Trinh
là cái muôn vật đã thành (Trinh giả vạn vật chi thành). Càn là tượng trời nên
không có thay đổi, cái thể của hanh thông đều xứng với việc làm.
Ba hào dưới tạo thành 'nội
quái', ba hào trên tạo thành 'ngoại quái'. Nguyên tắc của Dịch là "Nội
vi Chủ, Ngoại vi Khách", nghĩa là ba hào 'nội quái' là phần cương yếu, ba
hào 'ngoại quái' là phần bổ xung.
Thoán truyện nói: Vĩ đại
thay khí dương mùa Xuân khai sáng ra muôn vật ! Muôn vật nhờ đó mà bắt đầu sinh
sôi ! Nó thống lĩnh cả cõi trời. Mùa Hè mây bay mưa rơi. Các loại sự vật lưu bố
thành hình. Mặt trời sáng tỏ rực rỡ chuyển vận qua lại đem tới mùa Thu, sáu hào
quẻ Càn tổ hợp theo các thời vị khác nhau mà thành, giống như khí dương theo
đúng từng thời mà cưỡi sáu rồng để giá ngự thế giới tự nhiên. Sự vận hành của
thế giới tự nhiên rước mùa Đông tới, muôn vật đều tĩnh định tinh thần, bảo toàn
nguyên khí thái hòa, có lợi cho việc gìn giữ nết trinh chính kiên cố, chờ đến
năm tới lại sinh trưởng. Khí dương chu lưu không ngừng, lại bắt đầu nảy sinh lại
muôn vật, muôn phương thiên hạ đều hòa thuận thịnh vượng
[Thoán viết: Đại tai Càn nguyên ! vạn vật
tư thủy, nãi thống thiên. Vân hành vũ thi, phẩm vật lưu hình. Đại minh chung thủy,
lục vị thời thành, thời thặng lục long, dĩ ngự thiên. Càn đạo biến hóa, các
chính tính mệnh, bảo hợp thái hòa, nãi lợi trinh, thủ xuất thứ vật, vạn quốc
hàm ninh.]
Giải: 'Thoán' - Khổng Dĩnh
Đạt dẫn lời họ Chử, họ Trang nói: "Thoán là đoán, đoán định về nghĩa một
quẻ, cho nên gọi tên là Thoán".
Đại tai càn nguyên! vạn vật tư thủy,
nãi thống thiên - 'Càn nguyên', đức nguyên thủy của trời, nó là dương khí
tràn đầy trong vũ trụ, khai sáng muôn vật, lấy mùa trong năm để ví thì nó như cảnh
tượng mùa Xuân. 'thống' là thống lĩnh, Khổng Dĩnh Đạt nói: "Cực khỏe khi
lúc khởi thủy, do vậy nó có thể thống lĩnh ở trời". Câu này nhằm giải
thích nghĩa chữ 'Nguyên' trong Lời quẻ, hết lòng ca ngợi đức nguyên thủy của trời,
tức là dương khí tràn đầy vũ trụ khí sáng muôn vật.
Vân hành vũ thi, phẩm vật
lưu hình - câu này giải thích chữ 'Hanh' của Lời quẻ, cho rằng muôn vật nhờ
sự tưới nhuần của nước mưa mà không ngừng biến hóa phát triển, lớn mạnh hình
thành, giống như cảnh tượng mùa hè. 'phẩm vật' tức các loại sự vật, 'lưu hình' nghĩa
là lưu chuyển thành hình. Khổng Dĩnh Đạt nói: "Nói Càn có thể dùng đức của
trời, khiến cho khí mây trôi khắp, mưa móc chảy tràn để tất cả mọi loài thành
hình đều khắp, loài nào cũng được hanh thông, không loài nào phải ứ tắc, đó là
'hanh' vậy".
Đại minh chung thủy, lục vị thời
thành, thời thặng lục long, dĩ ngự thiên- câu này giải thích chữ 'Lợi"
trong Lời quẻ, cho rằng nhật nguyệt vận hành, tới thời thì thành, sáu hào biến
hóa như sáu rồng ngự ở trên trời, giống hệt như thế giới tự nhiên theo
trình tự 4 mùa, mà phát triển tới mùa thu, muôn vậy thảy đều thành thục. 'Lục vị"
là sáu hào trong quẻ theo 'thời vị' khác nhau mà hình thành, nói lên sự phát
triển của Khí dương tuần tự thuận theo một quy luật nhất định. Hai chữ 'thời
thành' hàm ngụ về cảnh tượng mùa Thu, muôn vật chuyển vật hết sức tới sự thành
thục.
Càn đạo biến hóa, các chính tính mệnh,
bảo hợp thái hòa, nãi lợi trinh - câu này giải thích chữ 'Trinh' trong Lời
quẻ, nói rằng sự biến hóa của thế giới tự nhiên, khiến cho muôn vật tỉnh định
tinh thần, nấp lặn ngủ nghỉ, bảo toàn 'nguyên khí thái hòa', đó giống như cảnh
tượng mùa đông. 'Chính', Trịnh Huyền chú là 'định', ở đây chỉ ý tĩnh định; 'tính
mệnh', Khổng Dĩnh Đạt chú: "Tính là chất của trời sinh, ví như cứng mềm chậm
nhanh; mệnh là cái mà người ta bẩm thụ, ví như sang hèn thọ yểu". Thượng Bỉnh
Hòa chú: "Tính mệnh là tinh thần". Chủ ngữ của câu này là "vạn vật"
nhưng đã tỉnh lược. 'Thái hòa' theo Chu Hy giảng là "khí có đủ âm dương
hòa quyện với nhau", tức là nguyên khí thái hòa của muôn vật.
Thủ xuất thứ vật, vạn quốc hàm
ninh - câu này lại quay lại giải thích chữ "Nguyên", nói rằng
khí dương tuần hoàn không ngừng, như đông hết xuân sang, muôn vật lại nảy sinh,
thịnh vượng. Tập giải dẫn lời Lưu Hiến: "Khí dương là cái
khởi đầu muôn vật, cho nên nói 'thủ xuất thứ vật'. Lập vua mà thiên hạ đều yên,
cho nên nói 'vạn quốc hàm ninh".
Xét về bốn đức của quẻ Càn mà nói, đó
chính là phục hồi "nguyên đức", cho nên gọi là "Trinh hạ khởi
Nguyên", Mã Kỳ Sưởng chú: "Trinh hạ khởi nguyên, muôn vật lại nhờ đó
mà bắt đầu từ đấy".
Trong thiên văn của Thái huyền
kinh có nói "võng, trực, mông, tù, minh", Phạm Vọng chú
thích rằng: "Năm thứ này là đức của Thái huyền, giống
như nguyên hanh lợi trinh trong Dịch vậy". Thái huyền còn
thuyết minh: "Trực là phương đông mùa xuân; mông là phương nam mùa hạ; tù
là phương tây mùa thu; võng, minh là phương bắc mùa đông. Xét kỹ ý nghĩa của
các thứ đó, thì trực là 'thực', có nghĩa là phồn thực, cho nên lấy đó làm mùa
xuân. Mông là mông phú (che lấp), cỏ cây mọc lớn, cho nên lấy đó làm mùa hạ. Tù
là xúc tụ (tích tụ), muôn vật thành tựu, cho nên lấy đó làm mùa thu. Võng Minh
là bế tàng, vô hình, cho nên lấy đó làm mùa đông".
Thượng Bỉnh Hòa trong học thuyết của
mình viết Chu dịch Thượng thị học, ra sức khẳng định thuyết của Thái
huyền chỉ rõ: "Trực, Mông, Tù mà sách Thái huyền nói
tới, đó là Chấn xuân, Ly hạ, Đoài thu, tức là nguyên, hanh, lợi vậy; Còn võng,
minh là Khảm đông, tức là Trinh vậy". Ông còn nói: "Vì thể của trời,
lấy kiện làm dụng; mà đức của trời không gì lớn hơn bốn mùa. Nguyên hanh lợi
trinh tức là xuân hạ thu đông, tức là đông nam tây bắc. Chấn nguyên, Ly hanh,
Đoài lợi, Khảm trinh qua lại tuần hoàn, không sai không cùng. Tên của Chu Dịch
chính là căn cứ vào đó vậy. Hậu nho giải thích điều này không ai hơn được Thái
huyền kinh". Thuyết này của Thượng Bỉnh Hòa đã khiến cho ngụ ý về bốn
đức của quẻ Càn được rõ ràng, lại khiến cho Lời Thoán quẻ càng thêm minh xác,
thật đáng theo.
Đại tượng nói: Sự vận hành
của trời cương quyết mạnh mẽ, người quân tử do vậy mà không ngừng tự cường không
nghỉ.
[Tượng viết: Thiên hành kiện, quân tử
dĩ tự cường bất tức.]
Giải: 'hành kiện', đi
khỏe, ý nói 'trời' mạnh mẽ vận hành, mãi mãi chẳng hề suy kiệt. Chu dịch
tập giải dẫn lời Tống Trung nói: "Ngày đêm không ngơi nghỉ, chuyển
vần mạnh mẽ, cho nên lấy chữ 'kiện' mà giải thích tên". Khổng Dĩnh Đạt
nói: "Hành, là chỉ sự vận động, kiện, có nghĩa là cường tráng". 'Dĩ',
giới từ, giải tích là 'do vậy', 'như vậy' để khiến cho nghĩa phần sau rõ hơn.
Lời Đại tượng trước tiên lấy câu 'thiên
hành kiện' để giải thích Càn trên Càn dưới của quẻ Càn đều tượng trưng cho trời,
sau đó suy rộng ra ý nghĩa là người quân tử học theo biểu tượng 'kiện hành' của
quẻ Càn, lập thân, hành sự, trước sau phải tự cường không ngừng. Khổng Dĩnh Đạt
nói: "Đây là lấy việc người mà noi theo phép tắc vận hành của trời. Ý nói
người quân tử theo quái tượng này mà tự cường gắng gỏi, chẳng bao giờ ngừng
nghỉ".
Lời hào Sơ cửu: Rồng lớn lặn
ở trong nước, tạm thời chẳng thi thố tài năng công dụng.
[Sơ cửu, tiềm long vật dụng.]
Giải: hào Sơ cửu quẻ Càn là
hào dương, ở ngôi thứ nhất dưới thấp trong quẻ. 'tiềm', là ẩn náu. Khổng
Dĩnh Đạt nói: "Ở ngôi thứ nhất, nên gọi là Sơ, nó lại là hào dương, nên gọi
là 'chín' (cửu). Theo sự sắp xếp từ dưới lên của sáu hào, từ đó người xưa đã tượng
trưng chi sự phát triển từ thấp đến cao, từ nhỏ bé đến rõ rệt của sự vật, cho
nên Chu dịch - Càn tạc độ nói 'Khí dịch sinh ra từ dưới".
Trịnh Huyền chú: "Dịch, vốn vô hình, từ nhỏ bé đến rõ rệt, cho nên Khí
sinh ra từ dưới, bắt đầu từ hào Sơ".
'Long', động vật khỏe mạnh, biến
hóa thần kỳ trong thần thoại. Dịch lấy nó làm vật tượng trưng của sáu hào quẻ
Càn. Tập giải dẫn lời của Thẩm Dương Sỹ nói: "Gọi là Rồng,
tức là mượn hình tượng vậy. Khí trong trời đất có thăng giáng, đạo người quân tử
có 'hành tàng' (hành là làm ra việc cho đời, tàng là lui về ở ẩn). Rồng là loài
vật có thể bay cao, có thể lặn sâu, cho nên lấy Rồng để ví với đức người quân tử
vậy. Hào Sơ còn tiềm phục, nên nói là 'vật dụng".
Hào thứ nhất là khởi đầu của sự vật, tượng
trưng cho khí dương mới sinh sức còn yếu, ngôi thấp lực nhỏ, cần phải bồi dưỡng
tích trữ các thứ tinh nhuệ, song mục đích của nó là nhằm phát triển thêm một bước,
do đó mà Lời hào răn "rồng lặn chớ dùng". Thực thì thời cơ chưa đến,
tạm thời tiềm ẩn mà thôi, một mai tình thế cho phép, thì phải từng bước tiến
triển, để đạt cảnh cõi 'rồng bay lên trời'. 'Tiềm long', biểu tượng cho người
quân tử chưa xuất đầu lộ diện, giữ sức đợi thời.
'Cửu', số dương đã thịnh cho nên đặt
tên cho hào Dương, lý thì không có hình nên mượn tượng để làm rõ nghĩa, có tượng
ắt phải có số, đã có lý - tượng - số thì không thể không có 'từ'. Đã có 'từ' rồi
thì 'dĩ' - theo đó mà bắt đầu từ đấy.
Tiểu tượng nói: "Rồng lặn tạm
thời không thi thố tài năng công dụng", nói rõ Khí dương mới sinh ở ngôi vị
thấp.
[Tượng viết: "Tiềm long vật dụng",
dương tại hạ dã.]
Giải: Tuân Sảng nói:
"Khí nhỏ ngôi thấp, dẫu có đức dương, lặn giấu ở dưới, cho nên nói là 'vật
dụng' vậy". Chu Hy nói: "Dương gọi là cửu, ở dưới là tiềm. Hai chữ
'tiềm long' là tượng Sơ cửu, hai chữ 'vật dụng' là lời chiêm đoán". Lấy sự
ở dưới mà chưa nên dùng, Dương ở dưới là lấy Khí để mà nói, còn nói là ở dưới
là lấy người để nói.
Lời hào Cửu nhị: Rồng lớn
xuất hiện ở ruộng, có lợi ở việc xuất hiện bậc đại nhân.
[Cửu nhị, kiến (hiện) long tại điền,
lợi kiến đại nhân.]
Chú thích: 'điền' là đất,
Trịnh Huyền nói: "Hào Hai là đạo đất của tam tài, trên đất tức là đồng ruộng,
cho nên gọi là đồng ruộng vậy". 'Đại nhân', nói chung có hai hàm nghĩa: thứ
nhất, chỉ người có đạo đức, có bản lĩnh; thứ hai, chỉ người có đạo đức có địa vị.
Ở đây lấy nghĩa thứ nhất.
Hào Nhị dương cương tăng dần, đầu sừng
vừa mới lộ đã bước được một bước quan trọng, dẫu vẫn còn cách xa thành công cuối
cùng, nhưng ở ngôi giữa của hạ quái chẳng thiên lệch, đã có đầy đủ tố chất của
sự thành công, cho nên được khen là bậc 'đại nhân'. Vương Bật nói: "Ra khỏi
chỗ lặn, lìa khỏi chỗ ẩn, nên gọi là 'kiến long'; ở trên đất nên gọi là 'tại điền'.
Đức ban cho khắp, ở giữa chẳng thiên lệch, tuy chẳng phải ngôi vua, nhưng đó là
đức của vua". Chu dịch tập giải Can Bảo nói: "Hào Nhị
là trên đất, ruộng ở mặt đất và có công của người. Khí dương sắp thi hành,
thánh nhân sắp hiển hiện. Đó là như Văn Vương khỏi cái nạn ở Dĩu Lý. Cho nên
nói rằng 'lợi kiến đại nhân". Xét, Can Bảo dùng tỷ dụ 'Văn Vương ra khỏi
Dĩu Lý' để giải thích hào từ tuy chưa hẳn đã thật sự chỉ việc đó, nhưng cũng hữu
ích cho việc lý giải hào này.
Hai quẻ Càn Khôn cùng thuần một thể,
nên không phân ra cương nhu, mà lấy đồng đức làm tương ứng. Có lợi về sự 'thấy,'
để thì hành cái đạo của mình. Người trên cũng có lợi về sự được người có đức.
Thiên hạ cũng có lợi về sự 'thấy' người có đức lớn để được ơn huệ. Hào Hai biến,
chỉ có lợi về sự 'thấy' người lớn mà thôi, nói rằng hào và lời hào cùng làm chủ
khách, tự làm một lệ. Do vì, Nhị mới ra khỏi chỗ ẩn thì chưa hiển hiện rõ, đó
là đức thì có mà ngôi thì chưa kiên cố, cho nên Chu Hy mới nói "người thường
không đương nổi". Nhị là tượng 'hiện long', lợi kiến đại nhân là lời
chiêm, nên lấy tượng làm chủ, lấy chiêm làm khách là biến lệ.
Tiểu tượng nói: "Rồng lớn xuất
hiện ở ruộng đồng", chứng tỏ đức tốt ban ra khắp nơi.
[Tượng viết: "Kiến long tại điền",
đức thi phổ dã.]
Giải: tượng hào Nhị ý chỉ về
khí dương xuất hiện ở mặt đất, đức sinh dưỡng của Khí dương phổ cập đến muôn vật.
Khổng Dĩnh Đạt nói: "Đấy lấy việc người mà nói, dùng đức rồng ở ruộng tựa
bậc thánh nhân đã ra đời, đạo đức ân huệ có thể tỏa khắp. Nếu so với Sơ vật dụng
(chớ dùng) thì đó đã là khắp lượt, nhưng nếu so với Ngũ thì vẫn còn hẹp vậy".
Xét, nói đức ân huệ đã tỏa khắp là ví với mặt trời mới mọc, tuy chưa ở giữa trời
mà ánh sáng đã khắp cả.
Lời hào Cửu tam: Người
quân tử suốt ngày cường kiện năng nổ không ngừng, cho đến ban đêm vẫn còn cảnh
giác thận trọng hành động, như vậy thì dẫu có nguy hiểm cũng không bị lỗi lầm
thiệt hại.
[Cửu tam, Quân tử chung nhật càn càn, tịch
thích nhược lệ, vô cữu.]
Giải: 'chung nhật' là kết
thúc một ngày, cả ngày, vì hào Lục tam ở chỗ kết thúc của hạ quái quẻ Càn, cho
nên nói thế; 'càn càn' cũng như khỏe rồi lại khỏe, cường kiện rồi lại cường
kiền hơn nữa; 'lệ' có các nghĩa sau 'nguy', 'tai họa', 'tội lỗi', 'cữu hại'; Hệ
từ thượng truyện nói 'vô cữu, là vô hại, là khéo sửa lỗi'.
Hào Lục tam ở chỗ hạ quái tiếp giáp với
thượng quái, địa vị của nó rất nguy, song nó biết cường kiện năng nổ không ngừng,
sớm tối thận trọng hành động, nên cuối cùng được vô hại. Lý Đỉnh Tộ - Chu
dịch tập giải dẫn lời Can Bảo nói: "Người quân tử căn cứ vào đó
mà lo sâu nghĩ xa, sớm tối chẳng ngơi, ngẩng lên thì lo vì nỗi chẳng được dự
vào sự tụ hội tốt đẹp, cúi xuống thì sợ chẳng đạt được sự hòa hợp chính nghĩa,
đạo trời phản phục mưu trước tính sau. Cho nên nói 'chung nhật càn càn". Lại
nói: "Hễ là vô cữu, thì tất mừng ở trong lo, khéo sửa lỗi vậy".
Chu Hy nói: "Cửu là hào dương, Tam
là ngôi dương. Hai lần cương lại chẳng ở giữa, ở ngôi trên của hạ quái, đó là địa
vị nguy hiểm. Song tính thể cương kiện, có biểu tượng có thể 'càn càn thích lệ'
(gắng gỏi không ngừng, sợ điều nguy hiểm). Biết lo sợ như vậy, thì tuy ở vào địa
vị nguy hiểm cũng vô hại".
Xét, quẻ Càn các hào đều lấy rồng làm
biểu tượng, riêng hào Cửu tam nêu người 'quân tử'. Về điểm này, Chu dịch
tập giải dẫn thuyết của Trịnh Huyền: "Tam ở Tam tài là đạo người,
có đức càn mà ở tại đạo người, đó là tượng trưng cho người quân tử". Chu dịch
là 'tùy sự nhi thủ tượng' (tùy theo sự việc mà lấy dụ tượng), tức là vận dụng
linh hoạt các vật tượng trưng đặc định. Trong hào từ của quẻ Càn thì 'rồng' là
vật 'dương cương', 'quân tử' là người 'cường kiện'. Xét từ góc độ tượng trưng,
cả hai đều ngụ ý chỉ khí chất cương cường liên tục không nghỉ. Vương Bật chỉ
rõ: "Các hào khác đều nói đến rồng. Riêng hào Cửu tam nêu người quân tử,
đó là vì sao ? Xét ra dịch chính là tượng vậy. Tượng sản sinh là sinh từ nghĩa.
Có nghĩa này thì sau mới thuyết minh bằng vật ấy. Nếu nêu chung thì thể của Càn
đều là rồng, nếu kể riêng thì tượng nào theo nghĩa ấy".
Lời hào Cửu tứ: Hoặc bay bổng
lên trên, hoặc lui về dưới vực, ắt không bị lỗi lầm tai hại.
[Cửu tứ, hoặc dược tại uyên, vô cữu.]
Giải: 'hoặc', dùng như
phó từ, biểu thị ý không xác định. Càn Văn ngôn nói: "Hoặc có nghĩa là
nghi, nghi hoặc.
Hào Cửu tứ ở hạ vị của thượng quái,
dương cương tích dần đã nhiều, nhưng địa vị khó xử, cho nên phải 'nghi hoặc',
xem xét cẩn thận, đáng tiến thì tiến, đáng lùi thì lùi, mới có thể khỏi bị cữu
hại. Khổng Dĩnh Đạt nói: "Ý hào Cửu tứ tiến dần, giống như thế rồng, muốn
bay vẫn còn do dự nghi hoặc". Song, loại nghi này chẳng phải là nghi ngờ
chẳng quyết, mà là cân nhắc xem xét thời thế, chờ đợi thời cơ mà hăng hái tiến
lên.
Xét, các hào thứ Ba, thứ Tư trong Dịch
đều biểu thị tương đối khó xử. Hào Tam tuy ở thượng vị hạ quái, nhưng chưa lên
tới thượng quái; hào Tứ tuy đã tiến vào thương quái, nhưng lại ở hạ vị của thượng
quái. Hai vị trí này, nếu ở đó thì sẽ chẳng thỏa đáng, thường dẫn đến cảnh dưới
chống trên ép. Bởi vậy, Hệ từ hạ truyện chỉ rõ "Tam đa
hung, Tứ đa cụ" (Hào tam phần nhiều là hung, hào tứ phần nhiều là sợ sệt).
Tam nói "Suốt ngày cương kiện năng nổ không ngừng, cho đến ban đêm vẫn
luôn luôn cảnh giác, hành động thận trọng, Tứ nói "Hoặc bay bổng lên trên,
hoặc lui về dưới vực", đó đều là nhằm vào địa vị gian nan của chúng mà
phát ra. Đây là một đặc điểm quan trọng của hào vị Kinh dịch.
Tiểu tượng nói: Hoặc nhảy vọt mà
tiến lên trên, hoặc lui về ở dưới vực, Chứng tỏ hào Cửu tứ xét thời mà tiến, ắt
không bị lỗi lầm, tai hại.
[Cửu tứ, Hoặc dược tại uyên, tiến vô cữu
dã.]
Giải: tiểu tượng dùng câu
'tiến vô cữu' để giải thích nội hàm tượng trưng của câu 'hoặc dược tại uyên',
nói rằng hào Cửu tứ khí dương khá thịnh, nếu biết xét kỹ thời thế để cầu tiến
thì có thể không bị lỗi lầm, tai hại.Chu dịch tập giải - Tuân Sảng
nói: "Đạo dương thích tiến, nên nói 'tiến vô cữu". Khổng Dĩnh Đạt
nói: "Đây cũng là lấy nhân sự ra mà nói. Tiến thì nhảy vọt lên trên, lùi
thì lặn ở dưới vực. Giống như thánh nhân nghi hoặc mà ở ngôi sang. Tâm sở dĩ muốn
tiến, là có ý về việc công, chẳng phải vì tư, cho nên tiến không lỗi".
Lời hào Cửu ngũ: Rồng lớn
bay cao trên trời, lợi về việc xuất hiện bậc đại nhân.
[Cửu ngũ, Phi long tại thiên, lợi kiến
đại nhân.]
Giải: 'Đại nhân', chỉ người
có đạo đức mà địa vị cao, có khác với nghĩa của 'đại nhân' ở hào Nhị. Trịnh Huyền
nói: "Hào Ngũ là đạo trời trong Tam tài. Trời thì trong sáng vô hình mà rồng
ở đó, là tượng của sự bay nhảy".
Hào Ngũ ở nơi tôn quý bên
trên, dương cương trung chính, tượng trưng cho dương cương phát triển đến mức cực
thịnh, cực mỹ. Cũng tượng trưng cho sự nghiệp có tính chất khai sáng đạt tới
giai đoạn tối hoàn mỹ, cho nên Lời hào mượn hình ảnh rồng bay (phi long) làm tỷ
dụ. Khổng Dĩnh Đạt nói: "Ý nói Cửu ngũ, khí dương thịnh tới tận trời, cho
nên nói là 'phi long tại thiên'. Đây là tượng của tự nhiên, giống như bậc thánh
nhân có đức của rồng bay, bay lên mà ở ngôi trời, đức trùm thiên hạ, được muôn
vật chiêm ngưỡng, cho nên thiên hạ lợi thấy bậc đại nhân này ở ngôi Vua".
Xét, hào thứ năm ở chính giữa
của Thượng quái thường thường là hào tốt nhất trong 6 hào của mỗi quẻ, thuyết
cũ gọi hào này là ngôi 'vua', cho nên người xưa thương lấy 'rồng bay trên trời'
trong hào Ngũ quẻ Càn để ví với việc vua chúa lên ngôi. 'Bậc đại nhân ở ngôi
vua' mà họ Khổng nói là thuộc ý này.
Tiểu tượng nói: "Rồng
lớn bay cao trên trời", chứng tỏ bậc đại nhân hăm hở dấy lên thi thố tài
năng.
[Tượng viết: "Long phi tại
thiên", đại nhân tạo dã.]
Giải: Lục Đức
Minh - Kinh điển thích văn dẫn lời Trịnh Huyền giải thích chữ
'tạo' là 'vi dã'. Chu Hi giải thích là 'tác dã', có nghĩa là nổi dậy mà thi thố
tài năng, tạo dựng sự nghiệp. Đây là dùng câu 'đại nhân tạo' để giải thích nội
hàm tượng trưng của câu 'long phi tại thiên', nói rằng Khí dương thịnh mỹ giống
như bậc đại nhân quật khởi mà làm sự nghiệp to lớn. Họ Khổng nói: "Đây
cũng là dùng việc người nói. Rồng bay trên trời, cũng giống bậc thánh nhân ở
ngôi vua. 'Tạo' nghĩa như 'vi' (làm). Chỉ có thánh nhân mới có thể làm việc ấy
và thành tựu được !"
Lời hào Thượng cửu: Rồng lớn
bay cao đến cực độ, cuối cùng sẽ có sự hối hận.
[Thượng cửu, Kháng long hữu hối.]
Giải: 'kháng', có
nghĩa là thái quá. Tập giải dẫn lời Vương Túc nói: "Cao đến
cùng cực là kháng". 'Hối', Hệ từ thượng truyện: "Hối tiếc
là tượng sự lo ngại". Khổng Dĩnh Đạt giảng: "Hối là việc đã sai, có sự
hối hận".
Hào Thượng dương cương, lại ở chỗ chót
của quẻ, cương kháng chí cực, cực thì ắt phản, nên có biểu tượng là 'kháng
long'. Chu Hi nói: "Khi cực thịnh, cần lo tới sự bay quá cao của nó mà thịnh
mãn, ý nghĩa của Dịch, nói chung là khi cực thịnh thì cần răn giới".
Hộ Khổng nói: "Thượng cửu dương
cương quá mức, lớn mà cực thịnh, cho nên gọi là 'kháng long'. Đó là tượng của tự
nhiên. Lấy sự người mà nói, tựa bậc thánh nhân có đức rồng, ở trên ngôi trời,
lâu mà kháng cực, cho nên có hối. Thuần dương tuy cực, chưa tới mức đại hung,
chỉ có hối hận ăn năn mà thôi".
Xét, sự vật phát triển, thịnh cực ắt
suy. Hào thứ sáu trong Dịch phần nhiều chứa đựng triết lý này. 'Kháng long'
trong hào tượng quẻ Càn đã bay cao cùng cực, thế tất sẽ bị va vấp giật gãy.
Tiểu tượng nói: "Rồng lớn bay
cao cực độ, cuối cùng sẽ có sự hối hận", nói rõ cương tiến thái quá không
lâu ắt suy.
[Tượng viết: "Kháng long hữu hối",
doanh bất khả hữu dã.]
Giải: tiểu tượng dùng câu
'đầy chẳng thể lâu' (doanh bất khả cưu) để giải thích nội hàm tượng trưng cho
câu 'kháng long hữu hối', nói rằng hào Thượng khí dương đầy thịnh hết mức, chẳng
thể giữ được lâu bền.
Khổng Dĩnh Đạt nói: "Đây
cũng lấy nhân sự mà nói, hào Ngũ là đầy (doanh), đầy mà chẳng dừng thì khi tới
Thượng là mức cùng cực thái quá, thì ắt có sự hối hận, cho nên nói 'doanh bất
khả cửu dã".
Càn dụng cửu: Dùng số 9, xuất
hiện một đàn rồng lớn đều chẳng tự coi mình là thủ lĩnh, cát tường.
[Dụng cửu, kiến quần long vô thủ, cát.]
Giải: gọi là 'dụng' chính
là lấy 6 hào của quẻ Càn làm ví dụ, chỉ rõ phượng diện đặc sắc của Dịch là lấy
'biến' làm chủ, đồng thời trong đó còn chứa đựng một số nguyên tắc của phép bói
Dịch.
Trong quá trình bói Dịch, khi bói được
hào Dương, thì số của nó hoặc là 7, hoặc là 9, dùng để chỉ tình trạng khả biến
và bất biến, nguyên tắc của phép bói Dịch là dùng 9 mà chẳng dùng 7, tức là 9
là số khả biến còn 7 là số bất biến, có nghĩa là chiêm đoán 'hào biến'. Khi bói
được cả sáu hào đều là 9 thì dùng lời hào Dụng cửu làm lời chiêm đoán.
Chu Hi nói: "dụng cửu có nghĩa là
hễ bói được hào dương thì đều dùng 9 mà chẳng dùng 7. Đại để đó là thông lệ của
192 hào dương của các quẻ.. Vì quẻ này thuần dương đứng đầu, nên xuất phát từ
đó mà thánh nhân gắn thêm từ ấy vào, để khi gặp quẻ này, cả sáu hào đều biến
thì căn cứ vào đó mà chiêm đoán".
Thượng Bỉnh Hòa nói: "Kiến quần
long vô thủ cát', nói rõ gặp 9 thì có nghĩa là biến. Chín vì sao ắt biến ? Số của
dương 9 là cực nhiều nên gọi là quần (đàn). Dương cực lại trở về âm, đó là cái
lý tự nhiên của trời đất. Càn là đầu, là dương cương đứng đầu các vật, dễ bị
các vật ghét, biến thành Khôn thì không đầu, không đầu thì có thể lấy nhu mà
giúp cương, cho nên cát".
Tiểu tượng nói: Dùng số 9 có nghĩa
là thiên đức của trời chẳng thể đứng đầu.
[Dụng cửu, thiên đức bất khả vi thủ
dã.]
Giải: 'thiên đức' là đức của
trời, chỉ đức dương cương. Đây là dùng câu 'đức trời chẳng thể đứng đầu' (thiên
đức bất khả vi thủ), để giải thích nội hàm tượng trưng câu 'kiến quần long vô
thủ, cát', ý nói rằng đức dương cương lấy việc chẳng thể tự mình đứng đầu,
cương mà lại có thể nhu là tốt đẹp.
Vương Bật giải thích câu 'dụng
cửu' và nói: "Sự cứng khỏe mà ở trên đầu người ta, đó là điều mà ta không
nên làm". Đây là sự ứng dụng trực tiếp quan điểm của Lão Tử "Ta sau
người mà thành ra trước người", và "Cao sang lấy thấp hèn làm gốc".
Khổng Dĩnh Đạt nói: "Đức trời
cương kiện, nên lấy nhu hòa mà tiếp đãi bề dưới, chẳng thể cậy mình là cương
tôn mà đứng đầu các vật, cho nên nói đức trời chẳng thể đứng đầu".
Chu Hi nói: "Ý nói dương cương chẳng
thể là đầu của vật, cho nên sáu dương đều biến thì cát tường".
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét