Hán Việt dịch lược sử - 7
Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018
DỊCH-TƯỢNG-SỐ
易 象 數
Trương Hành-Thành
張行成
Trương Hành-Thành 張行成, tự Văn-nhiêu 文饒,một tự khác là Tử-nhiêu 子饒, là người Cung-châu 邛州, Lâm cung 臨邛 (nay là huyện Cung-lai 邛崍, tỉnh Tứ xuyên). Ông học Thiệu-tử trong mấy chục năm và có soạn ra bẩy quyển sách: Chu dịch thuật diễn周易述衍, Hoàng cực kinh thế sách ẩn 皇极经世索隐, Hoàng cực kinh thế quan vật ngoại thiên diễn nghĩa 皇極經世觀物外篇衍義 , Dịch thông biến 易通變 , Dực huyền 翼玄, Nguyên bao số nghiã 元包數義, và Tiềm hư diễn nghĩa 潛虛衍義.
Ông có xét đến vấn-đề nội-hàm và tương-quan tuợng-số. Ông nghiệm ra rằng tượng là tượng cuả quái-hào, số là số chẵn lẻ: số có trước, tượng có sau, do số mà sinh tượng. Còn vấn-đề lý-số, ông chủ-trương số sinh từ lý, đề-xuất khái niệm 'lý-số', lấy lý-số làm căn-bản cho vũ-trụ vạn vật. Còn việc xiển-thích thái-cực, ông tiến thêm một bước nữa, xướng-xuất ý-kiến số bàn-luận. Nhận chân thái-cực kiêm bao số cuả lý-khí, cuả hư-thực và cuả động-tĩnh. So sánh Dịch Huyền ông thấy rằng: tiên-thiên-đồ chẳng qua là hồn-thiên-tượng, Thái-Huyền Đồ chẳng qua là cái-thiên-tượng. Trên thực-tế, tiên-thiên-đồ phản-ảnh tiên-thiên-số.Do tượng mà suy ra số,do số mà suy đến lý, do lý-số mà thuyết-minh quy-luật thiên-đạo và bản-thể vũ-trụ. Đó là đặc-điểm triết-học tượng-số cuả Trương Hành-Thành.
DỊCH-SỐ
易 數
(463)
Về Dịch-số ta có thể kể Mai-hoa Dịch-số cuả Thiệu-tử, Tứ-thanh Bát-điệu Dịch-số cuả Nước Nam ta và Khang-hi Dịch-số cùng là Thương-Hiệt Dịch-số tân-thời cuả người Hán. Nói một cách tổng-quát, ta có thể sách-dẫn tất cả các khoa lấy Dịch làm chuẩn như: Thái-Huyền 太玄 (Xin xem CHƯƠNG 10), Nguyên-bao 元苞, Tiềm-hư 潛虚, Đỗng-cực 洞極, Hồng-phạm-số 洪範數, Hoàng-cực-số 皇極數, cho chí Lục-nhâm 六壬, Thái-ất 太乙, Kỳ-môn Độn-giáp 奇門遁甲, Hà-Lạc Lý-số 河洛理數. Dịch-vỹ Kiền-tạc-độ 易尾乾鑿度cũng bàn nhiều về Dịch-số. Ngoài thần-số ra, ta còn có bát khắc phân-kinh định-số, Thiệu-tử-số, xuẩn-tự-số v.v.
Mai-Hoa Dịch-Số
梅 花 易 數
Tương-truyền là do Thiệu-tử sáng nghĩ. Nhưng sự thật có phải như thế không? Ta chỉ cần giở Tống-sử, mục Thiệu-Ung Bản-truyện và mục Nghệ-văn-chi, ta không hề thấy nói đến Mai-Hoa Dịch-số. Rồi các sách vở cuả các ông bạn thanh-khí cuả người như Tư-mã Quang, Lã Công-Trứ, Trình-Hạo, Trình-Di, Truơng-Tái, Vương An-Thạch, cũng vậy. Các sách cuả Thiệu Bá-Ôn con người cũng không hề đả-động gì đến Mai-Hoa Dịch-số (MHDS). Huống hồ, các Dịch-đồ cuả Thiệu-tử bao giờ cũng từ trong ra ngoài chứ không từ ngoài vào trong như trong các dịch-dồ cuả Chu-tử và Vương-Thực. Lại nữa, Thiệu-tử chỉ nói đến thiên-mệnh tức thị các quy-tắc thiên-điạ vận-hoá, âm-dương tiêu-trưởng, trong khi MHDS lại chỉ nói đến mệnh cuả thế-tục tức thị cát hung, hoạ-phúc cuả nhân-sự. Thành thử ra dưới đây sẽ đề-cập MHDS như là một phép bói. Nên để ý rằng MHDS, Quyển I, sau chiêm-pháp (Phép bói), chỉ nói đại-khái MHDS là một phương-pháp bói mà không giảng bói ra làm sao, mà chỉ đưa ra có một bài thơ:
一物其來有一身, 一身還有一乾坤。 能知萬物備於我, 肯把三才别立根。
Nhất vật kỳ lai hữu nhất thân,Nhất thân hoàn hữu nhất kiền khôn。Năng tri vạn vật bị ư ngã,Khẳng bả tam tài biệt lập căn。
天嚮一中分造化, 人於心上起經綸。 僊人亦有兩般話, 道不虛傳只在人。
Thiên hưởng nhất trung phân tạo hóa,Nhân ư tâm thượng khởi kinh luân。Tiên nhân diệc hữu lưỡng ban thoại,Đạo bất hư truyền chỉ tại nhân。
Bài thơ này gần hầu như giống hệt bài bài "Quan Vật Ngâm" trong 'Y-xuyên Kích-Nhưỡng Tập':
一物從來有一身, 一身還有一乾坤。 能知萬物備於我, 肯把三才别立根。
Nhất vật tùng lai hữu nhất thân,Nhất thân hoàn hữu nhất kiền khôn。Năng tri vạn vật bị ư ngã,Khẳng bả tam tài biệt lập căn。
天嚮一中分體用, 人於心上起經綸。 天人焉有兩般義, 道不虛傳只在人。
Thiên hưởng nhất trung phân thể dụng,Nhân ư tâm thượng khởi kinh luân。Thiên nhân yên hữu lưỡng ban nghị,Đạo bất hư truyền chỉ tại nhân。
Nhất vật kỳ lai hữu nhất thân,Nhất thân hoàn hữu nhất kiền khôn。Năng tri vạn vật bị ư ngã,Khẳng bả tam tài biệt lập căn。
天嚮一中分造化, 人於心上起經綸。 僊人亦有兩般話, 道不虛傳只在人。
Thiên hưởng nhất trung phân tạo hóa,Nhân ư tâm thượng khởi kinh luân。Tiên nhân diệc hữu lưỡng ban thoại,Đạo bất hư truyền chỉ tại nhân。
Bài thơ này gần hầu như giống hệt bài bài "Quan Vật Ngâm" trong 'Y-xuyên Kích-Nhưỡng Tập':
一物從來有一身, 一身還有一乾坤。 能知萬物備於我, 肯把三才别立根。
Nhất vật tùng lai hữu nhất thân,Nhất thân hoàn hữu nhất kiền khôn。Năng tri vạn vật bị ư ngã,Khẳng bả tam tài biệt lập căn。
天嚮一中分體用, 人於心上起經綸。 天人焉有兩般義, 道不虛傳只在人。
Thiên hưởng nhất trung phân thể dụng,Nhân ư tâm thượng khởi kinh luân。Thiên nhân yên hữu lưỡng ban nghị,Đạo bất hư truyền chỉ tại nhân。
Vì MHDS rất hữu-ích và thực-tế cho người xem bói, nên xin khai-triển tiếp:
Một hôm, Thiệu-tử vừa ngủ trưa tỉnh giậy, thấy một con chuột bèn lấy gối sành ném vào nó, gối bể, lòi ra một mẩu giấy trên có viết: gối này sẽ được bán cho một người tên là Thiệu-Ung, học-thức quảng-bác, sẽ làm bể khi ném vào con chuột giờ ấy, ngày ấy, tháng ấy, năm nọ.
Thiệu-tử vừa làm đúng theo lời tiên đoán. Nhận thấy điều kỳ lạ, ông bèn tìm đến lò gốm đã bán gối cho ông. Người chủ lò gốm nhớ rằng đã lâu có một ông già đã vào lò gốm mang theo một quyển Kinh Dịch, ông có nhấc chiếc gối lên để ngắm nghiá. Ông lò gốm đoan chắc là ông già đã nhét mẩu giấy vào trong chiếc gối. Tuy đã lâu không thấy ông già, nhưng biết rõ nhà ông ở đâu.
Hai người cùng nhau đến nhà ông già. Con ông ra mở cửa và thưa rằng cha mình đã mất hai hôm trước, mà nhà nghèo đến nỗi không có tiền làm đám ma. Tuy nhiên, trước khi chết, ông già dặn lại người nhà là sẽ có một đại-học-giả đến đúng ngày giờ nọ kia, thì trao cho ổng quyển sách này. Một khi đại-học-giả có sách trong tay, ổng sẽ đoán ra là lấy tiền ở chỗ nào để làm tang-phí.
Cuốn sách là một quyển Kinh Dịch trong đó công-thức để dự-đoán. Thiệu-tử áp dụng đúng theo công-thức cuả sách, thấy là mấy lạng bạc được để trong một chiếc hộp thiếc và chôn ở góc tây-bắc cuả căn nhà, ngay dưới một chiếc giường. Bạc đã tìm được đúng như dự đoán.
Vài hôm sau, Thiệu-tử đang ngắm hoa mai. Ông thấy có hai con chim sẻ giành nhau một cành mai, rồi cả hai té xuống đất. Ông bèn đặt tên cho phép bói cuả ông già là 'Mai-hoa Dịch-số 梅 花 易 數'.
Tứ-thanh Bát-Điệu Dịch-Số
四 聲 八 調 易 數
Đây là một dịch-số do biên-giả sáng nghĩ, dùng chữ Quốc-ngữ và bản văn Kinh Dịch.
Chú-Thích: Ở dòng cuối, cột 7 & 8, là thanh nhập, có nghiã là những tiếng tận cùng bằng c, ch, p hoặc t.
Phép Bói: Viết một câu hỏi bằng chữ Quốc-ngữ. Chia câu thành hai phần. Nếu số tiếng lẻ, thì dành tiếng lẻ ấy cho phần sau. Đổi các tiếng thành ra số theo bảng kể trên, ta sẽ được 2 số n1 và n2 và tổng-số N = n1 + n2 : n1cho ta thượng-quái, n2 cho ta hạ-quái và N amod 6 cho ta động-hào.
Ta cũng có thể thực-hiện phép bói này bằng các phương-thức khác sau đây:
- Dùng năm, tháng, ngày, giờ âm-lịch: đây là phương-pháp phổ-biến nhất. Năm và giờ thì dùng 12 chi:
Tí
|
Sửu
|
Dần
|
Mão
|
Thìn
|
Tỵ
|
Ngọ
|
Mùi
|
Thân
|
Dậu
|
Tuất
|
Hợi
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
9
|
10
|
11
|
12
|
Tháng từ giêng đến chạp kể là 1 đến 12. Ngày thì tính từ 1 đến 30.
- Tiên-thiên-pháp thứ nhất:
Thượng-quái được suy-diễn từ nhiều yếu-tố cuả bối cảnh như: số-lượng đương kỳ (như thấy có mấy người xung quanh? Tên cuả vấn giả thuộc thanh-âm nào? v.v.
Hạ-quái được suy ra từ năm tháng, ngày giờ âm-lịch như ở mục 1.
- Tiên-thiên-pháp thứ nhì:
Chọn hai số liên-quan đến bối cảnh. Số nhỏ dương dành cho thượng-quái, số lớn âm dành cho hạ-quái .
- Tiên-thiên-pháp thứ ba:
Tổng-số = năm + tháng + ngày sẽ cho thượng-quái. Cộng thêm giờ nữa sẽ cho hạ-quái. Thí-dụ minh-hoạ: ngày 17 tháng chạp năm thìn, giờ thân, thấy hai con chim sẻ tranh nhau một cành mai, rồi cùng té xuống đất, là vì: 5 + 12 +17 = 34 ~ 2 (đoài vi trạch); 5 + 12 +17 + 9 = 43 ~ 3 (ly vi hoả). Trạch-hoả Cách có nghiã là bị 'cách' từ cao xuống thấp.
- Hậu-thiên-pháp:
Phương-pháp này dùng trực-tiếp hoàn-cảnh, và các đặc-tính cuả đơn-quái nên khó hơn các phương-cách khác. Nhưng với thời gian, người bói sẽ quen dần. Nhận xét hai khiá cạnh cuả tình cảnh, đương-sự, sự-kiện liên-quan: tuổi-tác, phái, nghề-nghiệp hoặc tiếng động, số động-vật, số người, mầu sắc, phương hướng, vị-trí đương-sự v.v.
Khang-Hy Dịch-Số
康熙易數
Chọn hai chữ nho bất-kỳ. Đếm số nét cuả mỗi chữ, ta sẽ được 2 số n1 và n2. N = n1 + n2. Dò vào bảng trên, n1 cho ta thượng-quái, n2 cho ta hạ-quái và N amod 6 cho ta động-hào.
Hai thí-dụ minh-hoạ dưới đây là cuả ông Da Liu (468): Năm 1937, Trung-Nhật chiến-tranh đang diễn ra Kịch-liệt. Ông đang ở tỉnh Hà-nam, thuộc tây-nam Trung-quốc. Dân chúng chiụ nhiều tổn hại. Ai cũng lo cho quốc-vận tương-lai. Lúc đó ông mới dùng Khang-Hi Dịch-số để bói. Lúc đó đang là hợp-tác Quốc-cộng do Quốc-dân-đảng 國民黨làm chủ chốt, để chống quân Nhật xâm-lăng. Chữ quốc 國 11 nét, chữ dân 民 5 nét, vị chi là 16 nét, amod 8 còn 8 là quẻ khôn /; chữ đảng 黨 là 19 nét, amod 8 còn 3 là quẻ ly %. Thành ra quẻ Điạ-hoả Minh-di d. 16 + 19 = 35, amod 6 còn 5. Minh-di động hào ngũ biến thành thủy-hoả Ký-tế ^.
Thoán-truyện quẻ Minh-di nói rằng: trong văn-vẻ sáng suốt mà ngoài thì mềm thuận, để gánh lấy cái nạn lớn, vua Văn cũng bị như thế đấy. Giữ điều chính để che giấu cái sáng cuả mình thì có lợi.
Giải-thích: Trung-quốc (Văn Vương) đối-nội văn-minh mà đối-ngoại phải chiụ đựng trường-kỳ gian khổ.
Hào-từ sơ-cửu nói rằng: sáng bị tổn-hại, như chim đang bay rũ cánh, nghiã là phải hạ mình thương-thuyết với quân Nhật xâm-lăng.
Hào sơ-cửu động Minh-di biến thành điạ-sơn Khiêm mà hào-từ sơ-lục là: 'Khiêm khiêm quân-tử, dụng thiệp đại-xuyên = Rất nhún-nhường vậy; người quân-tử dùng sự nhún nhường ấy để vượt qua sông lớn thì tốt'. Khiêm tốn với quá-khứ, Trung-quốc cuối cùng sẽ thắng.
Hào-từ lục-nhị quẻ Minh-di nói 'Di vu tả cổ, dụng chửng mã tráng, cát = Bị thương ở đùi bên trái, dùng ngựa mạnh để cứu thì tốt'. Giải-thích: Quân-địch sẽ tấn-công từ phiá đông-bắc (trái).
Khi hào lục-nhị cuả Minh-di động, ta sẽ được quẻ điạ-thiên Thái mà Thoán-Truyện là: 'Tiểu vãng đại lai cát hanh, tắc thị thiên-điạ giao nhi vạn-vật thông dã, thượng hạ giao nhi kỳ chí đồng dã = Cái nhỏ đi, cái lớn trở lại thì tốt lành, hanh-thông, ấy là trời đất giao-cảm mà muôn vật thông vậy, trên dưới giao-cảm mà chí-hướng hợp nhất vậy'. Giải-thích: cuộc xâm-lăng cuả người Nhật làm cho Quốc-Cộng hợp-tác để đánh lại kẻ thù chung.
Hào-từ cửu-tam quẻ Minh-di nói 'Minh-di vu nam thú, đắc kỳ đại thủ = Ánh sáng bị tổn-hại ở chỗ đi tuần về phương nam, bắt được kẻ lớn đầu'.
Hào-từ lục-tứ quẻ Minh-di nói 'Nhập vu tả-phúc, hoạch Minh-di chi tâm = Vào bụng bên trái được trung tâm cuả Minh-di' có nghiã là Tưởng Giới Thạch (vốn quê ở Hoa-nam) phải đem quân xuống Hoa-nam dẹp loạn, và sẽ trở về vị-trí đầu một cách thành-công.
Khi hào lục-tứ quẻ Minh-di động sẽ biến thành quẻ lôi-hoả Phong mà lời Thoán kết-thúc bằng 'Nghi nhật trung = Nên như mặt trời đứng bóng'. Mà trời đứng bóng ắt phải từ từ lặn, có nghiã là quân Nhật (mà quốc-kỳ có hình mặt trời) rất mạnh, nhưng đã lên tới thiên-đỉnh sẽ đến lúc tàn bại.
Hào-từ lục-ngũ quẻ Minh-di nói 'lợi trinh', có nghiã là sẽ giao-chiến lâu dài và cam go giữa quân Nhật và quân của QDĐ. Khi hào này động sẽ biến thành thủy-hoả Ký-tế mà lời Thoán là: 'Hanh, tiểu lợi trinh. Sơ cát, chung loạn = Hanh thông nho nhỏ. Trước tốt, sau rối loạn', có nghiã là: chiến-tranh sẽ chấm dứt với chiến-thắng, nhưng sẽ gặp nội loạn (do Trung-cộng gây ra).
Hào-từ lục-tứ quẻ Minh-di nói 'Bất minh hối, sơ đăng vu thiên, hậu nhập vu điạ = Chẳng sáng suả mà tối tăm, trước lên tuốt tận trời, sau rớt xuống đất', có nghiã là: QDĐ có thể sáng láng nhưng sau sẽ u-tối. Quả nhiên, Trung-cộng lấy hết Đại-lục năm 1949 và chính-phủ QDĐ phải rút lui ra Đảo Đài-loan.
Đảng cộng-sản Tầu 中國共產黨
Sau thế-chiến II là chiến-tranh Quốc-Cộng. Chữ cộng 共 là 6 nét, chữ sản 產 là 11 nét, tổng cộng là 17 nét, amod 8 còn 1 là quẻ kiền !. Chữ đảng là 19 nét, amod 8 còn 3 là quẻ ly %. Thành ra quẻ Thiên-hoả Đồng-nhân M,tương-ứng với chủ-nghiã đại-đồng tức thị công-sản. 17 + 19 = 36, amod 6 còn 6. Đồng-nhân động hào 6 là quẻ trạch-hoả Cách, thế thì Quốc-dân-đảng bị 'cách' ra đảo Đài-loan mất rồi.
Bài Tập: Giải-thích Đại-tượng cùng là hào từ quẻ Đồng-nhân từ sơ-cửu đến thương-cửu rồi cho cả động-hào nữa, rồi giải-thích hào-từ các biên-quái mới được.
BÀI GIẢI
Trong quẻ Đồng-nhân M quái-tính cuả thượng-hạ-quái ứng với CSĐ Tầu. Hạ-quái ly có nghiã là hoả, là màu đỏ; thượng-quái là kiền có nghiã là trời và cũng là mầu đỏ. Chữ hồng (mầu đỏ) ta thấy trong các từ Trung-hoa đỏ, là tờ báo chính-thức cuả Trung-Cộng, trong hồng-kỳ, trong hồng-quân và , một thời sau đó, trong từ vệ-binh đỏ v.v.
Quái-danh Đồng-nhân biểu-đạt chủ-thuyết Thế-giới Đại-đồng cuả CS.
Đại-tượng quẻ Đồng-nhân bảo 'Thiên dữ hoả Đồng-nhân, quân-tử dĩ loại-tộc biện vật = Trời và lửa là tượng cuả quẻ Đồng-nhân, người quân-tử coi đó mà phân chia chủng-loại (và giai-cấp) và biện-biệt mọi vật'.
Giải-thích: các lãnh-tụ sẽ xuất-hiện và tổ-chức Đảng CS Trung-quốc.
Lời Thoán quẻ Đồng-nhân nói: 'Đồng-nhân vu dã hanh, lợi thiệp đại-xuyên = Cùng người ở cánh đồng mông mênh, thì hanh thông, vượt qua sông cả thì lợi'.
Đoạn này mô tả người nông-dân hoạt-động ở cánh đồng mông mênh: CS vốn dĩ lấy giai-cấp nông-dân làm thành-phần bản-bộ: họ từ thời Tôn Dật-Tiên (1922), được Mao Trạch-Đông dẫn giắt làm thành-phần nòng cốt, có tham-dự vào chiến-tranh du-kích. Gần đây hơn, họ áp-dụng sách-lược này cho Phi-châu, cho Đông-dương và cho Mỹ-châu La-tinh. CS khởi sự từ Hoa-bắc, vượt qua hai con sông cả là Dương-tử-giang và Tây-giang. Rồi sau khi đã toàn-thắng ở Đại-lục họ làm vết dầu loang đến các miền khác. Họ giúp HCM củng-cố chính-quyền ở Việt-Nam. Năm 1951, họ đem cả triệu chí-nguyện-quân vượt Áp-lục-giang, giúp Bắc-Hàn xâm-lăng Nam-Hàn. Ảnh-hưởng cuả họ lan sang cả các nước ở Châu Phi cùng là Nam-dương. Năm 1965, Chu Ân Lai viếng thăm 14 nước và giúp chủ-nghiã CS phát-triển mạnh mẽ tại Châu Mỹ La-tinh (Cuba, Venezuela, Chile, Brazil, Argentina, Uruguay, Bolivia, Nicaragua, Ecuador, Paraguay, Peru và El Salvador).
Khi hào sơ cuả quẻ Đồng-nhân động, ta sẽ được Biến-quái Độn mà lời Thoán là: 'Hanh, tiểu lợi trinh = Hanh thông, kẻ tiểu-nhân giữ điều chính thì lợi'. Kẻ tiểu-nhân ám chỉ CS Tầu, lúc đầu chiụ lép vế QDĐ, nhưng sau sẽ chiến-thắng.
Tiềm long vật dụng = Rồng ẩn chớ dùng', có nghiã là CS Tầu lẩn trốn ở phiá đông-bắc để chờ dịp phản-công.
Hào-từ cửu-tam cuả quẻ Đồng-nhân nói: 'Phục nhung vu mãng thăng kỳ cao lăng, tam tuế bất hưng = Như thể nấp quân ở chốn rừng rậm, đi lên đồi cao, ba năm chẳng hưng-vượng được', có nghiã là CS Tầu lẩn trốn trong rừng sâu mà du-kích-chiến, đến mãi năm kỷ-sửu (1949), họ mới thành công.
Thương-Hiệt Dịch-Số
倉 頡 易 數
Nghĩ ngầm một chặp, chọn một hai chữ nho bất-kỳ, ta sẽ có hai mã-số: mã-số đầu cho thượng-quái, mã-số sau cho hạ-quái. Trong bảng dưới đây: 1 chấm = bộ qua 戈; 2 chấm = bộ kim 金; 1 nét ngang = bộ nhất 一; móc câu = bộ cung 弓; 1 phết + 1 ngang (hay nét mác) = bộ trúc 竹; 2 nét sổ + 3 nét ngang = bộ nguyệt 月; nét sổ, nét ngang giao nhau = bộ thập 十; một chấm + 1 sổ = bộ bốc 卜; các bộ thủ độc-lập: tâm 心, nhân 人, sơn 山, thi 尸, khẩu 口, nhật 日, mộc 木, thuỷ 水, thổ 土, trấp 廿, đại 大, trung 中, hoả 火, nữ 女, điền 田, chữ trùng 重 (hai mã-số liên-tiếp trùng nhau).
Động-hào có thể tính bằng công-thức sau:
Động-hào = (thượng-quái-số + hạ-quái-số + giờ) amod 6
Giờ là giờ đại-khái: như 11: 03 hay 11:59 đều kể là 12 giờ.
Tỷ như ta được hai chữ ốc 屋 và hương香 ứng với hai mã-số thi 尸 (ly) và trúc 竹 (khôn). Bản-quái là hoả-điạ Tấn: nội-quái khôn là thể (bản thân ta), ngoại-quái là dụng (ngoại-cảnh). Chuyện xẩy ra lúc 11: 40 nên động-hào là:
3 + 8 + 12 ~ 5. Biến-quái là: thiên-điạ Bĩ cho ta diển biến cuả sự việc. Tra hỗ-quái trong biểu dưới đây:
Hỗ-quái là quẻ Kiển cho ta quá-trình sự kiện.
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét