Vai diễn của chính tinh trong Tử Vi

tháng 8 26, 2019 |

Vai diễn của các chính tinh.

Thầy của Tử Kỳ Lân nói rằng: “cuộc đời như một vở kịch, mà kịch bản đã soạn sẵn. Mỗi con người chúng ta trong vở kịch đó, đang thủ vai và diễn vai của mình, dù họ có biết hay không. Người nào nghiên cứu kỹ kịch bản, cũng như nghiên cứu kỹ về vai diễn của mình, sẽ diễn tốt hơn, thậm chí xuất sắc, dù là vai chính hay vai quần chúng.”
Lời nói này để lại trong Tử Kỳ Lân thật nhiều suy ngẫm vì nội hàm của lời dạy quá sâu rộng. Không dễ dàng gì để hiểu hết được kịch bản mà thiên địa đã tạo ra cho mỗi người, trong bối cảnh từng thời khác nhau. Cũng không dễ dàng gì hiểu hết được vai diễn của mình, mình diễn vai gì, diễn như thế nào trong kịch bản ly kỳ đó. Thông qua các môn huyền học phương Đông cũng như chiêm tinh phương Tây, để từng bước vén màn bí mật của những phần kịch bản đang bị giấu kín, rồi tìm cách xâu chuỗi lắp ghép thành một vở kịch đầy đủ và liền mạch, là cả một chặng đường dài thú vị. Khi gắng công tìm hiểu về vở kịch cuộc đời, cảm giác thú vị hồi hộp như diễn viên thực thụ. Đó là thứ cảm giác vừa lo sợ vừa vui mừng, lúc bi quan lúc lạc quan, có lúc rất hưng phấn với những cảnh quay mà mình đã phần nào đoán định được trước...
Nay, thử nhìn các chính tinh trong Tử Vi như những diễn viên của từng kịch bản (hay từng game) một cách sơ lược và ngẫu hứng, tùy bút phác họa đôi nét chấm phá để xem luật của game như thế nào.
Trước tiên ta xem chính tinh phân bố như thế nào, liên hệ với nhau ra sao. 14 chính tinh chia làm hai vòng, một theo Tử Vi, một theo Thiên Phủ mà an định vị trí. Tử Vi dẫn theo Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh. Thiên Phủ dẫn theo Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân. Vị trí của Thiên Phủ cũng được quyết định bởi vị trí sao Tử Vi (Tử Vi và Thiên Phủ đối xứng nhau quan trục Dần Thân). Như vậy, Tử Vi là ngôi Đế, quyết định và an bài các sao khác. Và cũng từ đó, nếu Tử Vi bị xâm phạm, ắt các sao khác cũng bị động theo (Đế tinh động, tắc liệt tú bôn trì).
Vòng Tử Vi, thì Tử Vi luôn tam hợp với Vũ Khúc và Liêm Trinh thành một nhóm, Thiên Cơ luôn tam hợp với Thiên Đồng, duy có Thái Dương không liên hệ với chính tinh nào cố định trong vòng Tử Vi ở thế tam hợp.
Vòng Thiên Phủ, thì Thiên Phủ và Thiên Tướng vĩnh viễn tam hợp, Thái Âm với Thiên Lương vĩnh viên tam hợp, Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang vĩnh viễn tam hợp, duy có Cự Môn chẳng liên hệ với chính tinh nào (trong vòng Thiên Phủ) ở thế tam hợp.
Xã hội xưa và nay, có thể tạm chấp nhận một cách phân chia theo nhóm người. Nhóm thứ nhất thuộc phe triều đình, hay chính phủ…đại diện cho tầng lớp lãnh đạo đất nước, quan quyền, có chức năng lãnh đạo điều hành, giữ ổn định trật tự. Nhóm thứ hai thuộc phe đối lập, thế lực mạnh tương, vừa phối hợp vừa xung đột lợi ích, thường có tính khai phá mở rộng, tranh cướp và bất ổn định. Nhóm thứ ba thuộc nhóm thường dân, mềm mỏng, lương thiện, thấp cổ bé họng. Theo đó, 14 chính tinh có thể tạm phân chia thành 3 nhóm như vậy: nhóm triều đình gồm Tử Vi Vũ Khúc Liêm Trinh, bộ ba tam hợp này được dẫn đầu bởi Tử Vi, gọi là Đế. Phủ Tướng là một cặp cũng thuộc phe triều đình có chức năng thi hành nhiệm vụ, hỗ trợ Đế và các ban bệ. Nhóm đối lập là Sát Phá Tham mạnh mẽ hung bạo, có liên hệ chặt chẽ với nhóm triều đình, vừa giao lưu qua lại, nhưng luôn tiềm ẩn nguy cơ cướp phá chính quyền. Nhóm lương dân hiền lành, xuất thân kém hơn, là nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương, vai trò được định danh là “lại nhân”. Còn lại hai sao Cự Môn và Thái Dương không đi trong nhóm nào cố định, chẳng biết gọi tên là gì, phạm vi hoạt động rất rộng, cả trong lẫn ngoài nước. Khi thấy Cự Nhật, thường liên quan đến sự bang giao với ngoại quốc.
Như vậy, sơ bộ các chính tinh đã được sắp xếp phạm vi của vai diễn.
Có người sẽ thắc mắc, vì sao Phủ Tướng được xếp vào phe triều đình, mà các sao khác thì không? Vì rằng khi sách nói đến quần thần khánh hội, thì chỉ cho Phủ Tướng khánh hội với Tử Vi thành nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm thành tập đoàn đầy đủ. Tử Vũ Liêm và Phủ Tướng phân ra hai chức năng trong cùng một nhóm lãnh đạo cao cấp. Một bên ra chủ trương và một bên thực hiện (tạm hiểu như Đảng và nhà nước, hay Thượng Viện và Hạ Viện). Nhóm lương dân Cơ Nguyệt Đồng Lương và nhóm Cự Nhật vĩnh viễn không bao giờ giao hội trong thế tam hợp với nhóm triều đình. Còn nhóm Sát Phá Tham có thể tranh cử tham gia trong tình hình đất nước nhiễu loạn. Chỉ có Thất Sát trong nhóm này được gọi là “triều đẩu-Thất Sát triều đẩu”, cũng chỉ là chư hầu chầu về.
Phải chăng, đẳng cấp và giai cấp, đã luôn được hình thành và duy trì từ sau khi con người ra khỏi thời kỳ ăn lông ở lổ? Thiên tôn, Địa ti, tôn và ti phân hóa rất rõ trong mô hình Tử Vi.
Khi ta định hình mình ở nhóm nào, hay đẳng cấp nào, ta tự biết mình phải diễn trong khuôn khổ của nhóm đó, với những quy tắc được xác lập, và với chức năng nhiệm vụ riêng có. Theo đó, mỗi chính tinh mang trong mình nhiệm vụ riêng, chức năng riêng và sở trường riêng không thể lẫn lộn (Các tư kỳ chức, bất khả tham soa.) Cái riêng đó, được đặt trong bối cảnh chung của từng nhóm, và rộng hơn, là trong thế của nhóm đó so với các nhóm khác. Ví dụ, Thiên Phủ quản về quan Lộc, quản tài chính kho bãi dinh thự, nhưng phải làm việc trong thế tam hợp với Thiên Tướng. Do đó ngoài chức năng của mình, thì còn bị chi phối trong sự ràng buộc với Thiên Tướng (vì vậy cổ nhân nói phùng Phủ khán Tướng, phùng Tướng khán Phủ). Xa hơn, Phủ Tướng phải diễn vai diễn, trong thế tương quan của nhóm Phủ Tướng với các nhóm khác, ở các ti chức khác.
Câu hỏi đặt ra, là các mối quan hệ người với người trong xã hội bất kể giai cấp và đẳng cấp, luôn có mối liên hệ qua lại chặt chẽ với nhau. Vậy thì các nhóm sao riêng biệt như vậy, sẽ giao lưu với nhau thông qua cơ chế nào. Ở đây, có thể tạm gọi theo cách “minh – ám”. Những mối quan hệ tam hợp như vậy, đương nhiên hiển lộ ai cũng biết. Nhưng những mối giao lưu ngầm, đôi khi lại là tác nhân ghê gớm chi phối mối quan hệ của sự minh chính. Ta cùng xem các diễn viên này tương tác với nhau theo cách nào để tạo nên các mối quan hệ khăng khít chằng chịt, cũng như những tác nhân ngầm (ám) nào đưa đẩy cục diện biến hóa đa dạng.
Hai nhóm triều đình và phe đối lập tuy hoạt động độc lập nhưng luôn có sự qua lại hỗ trợ và kiềm chế lẫn nhau.
Tử Vũ Liêm có thể giao thoa với Sát Phá Tham tạo nên những tình thế biến động. Đó là các cách Tử Phá, Tử Sát, Tử Tham cho thấy đó là lúc phe triều đình đã không còn vị trí độc tôn.
Phủ Tướng thuộc phe triều đình, được giao trách nhiệm chia nhau kèm cặp Thất Sát và Phá Quân. Phủ Sát luôn xung chiếu nhau, Tướng Phá luôn xung chiếu nhau, được coi như nhiệm vụ chính, tạo nên thế cân bằng cho hai phe.
Khi Phủ diễn vai trò là quốc Khố, quan về Quan Quyền và tài chính, kho lẫm, thì Thất Sát diễn vai trò giám sát kho, giám sát chức năng của Phủ. Phủ bảo thủ và gìn giữ bên trong, thì Sát bảo vệ ở vòng ngoài. Sát diễn vai ác đi sát đoạt, cướp đoạt, kiếm tiền của về nhập kho Phủ. Phủ diễn vai hiền, bảo vệ và phân phát tiền tài chức vụ. Hiền ác chỉ là cách gọi, chẳng có nghĩa rằng cứ sát là ác, Phủ là hiền. Sách viết Phủ hài hòa ổn trọng, Sát uy quyền hung dữ. Đây chỉ là hai mặt của một vấn đề. Khi lập ra Thiên Phủ (khố) thì ngoài việc dựng anh Thất Sát bảo vệ vòng ngoài khỏi những thế lực khác, Sát còn có chức năng giám sát chính Thiên Phủ, để Phủ không độc đoán làm loạn, tư lợi biển thủ của công. Cũng như Sát uy quyền và hung dữ ở vòng ngoài, phải dùng phủ để kiềm chế tính hung. Ví dụ như cắt lương thảo bổng lộc đi, thì Sát luôn có nguy cơ mất quyền mất lộc mà phải quy phục. Cuộc đời của Phủ và Sát, luôn coi nhau là đối tượng chính, luôn luôn phải tạp ra thế cân bằng cho cuộc chơi. Phủ sơ hở, Sát sẽ thừa cơ cướp Phủ. Sát sơ hở, tất bị Phủ chôn vùi che lấp công trạng…
Tướng quản về Ấn, quản về Quan Lộc, nhưng thiên về Ấn chức. Dùng Tướng, Ấn (con dấu, lệnh bài…) để thu phục và quản quân. Do đó Phá Quân ở vai trò là tướng biến thùy, bạo ngược vô lối, luôn có xu hướng bị chiêu mộ bởi phe triều đình, dưới Ấn của Thiên Tướng. Tướng quản về danh, tinh thần, tính tình rộng rãi hào hiệp để thu phục Phá Quân. Nói cách khác, loạn quân nào rồi thì cũng luôn có xu hướng quy tụ về dưới một ngọn cờ; loạn đảng nào rồi thì cũng có xu hướng quy tụ về dưới một ngọn cờ của Thiên Triều (như 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc, quy tụ dưới sự lãnh đạo của Tống Giang, rồi Tống Giang nắm loạn đảng, cũng lại quy phục dưới phe triều đình). Cái không chính luôn hướng về cái chính vậy.(dịch luôn đề cao vai trò của trung, chính. Cũng như Tử Vi, không chính cục luôn hướng về chính cục). Mối quan hệ của Tướng – (Phá) Quân, khăng khít như Tướng với Quân, vừa thống nhất và đối lập. Thống nhất trong một chính thể của Ấn, nhưng đối lập và mâu thuẫn trong quyền lợi và danh vị. Khi khó khăn thì đồng sức hiệp lực, lúc bình sinh thì nội bộ lại mâu thuẫn lẫn nhau. Cho nên Tướng luôn phải diễn vai của “hiệp”, “nghĩa” lấy sự tương trợ (hiệp) yêu thương (tình nghĩa) quân dưới trướng mình để thu phục nhân tâm. Có như vậy mới chế phục được tính háo, phá tán không ngừng của Phá Quân. Khi xét về Thiên Tướng, cổ nhân rất coi trọng thế “hiệp”. Do vậy, khi Tướng ở trong thế Hình Tù hiệp Ấn, Hình Kỵ hiệp Ấn, thì Phá Quân ở thế đối xung tất bị rối loạn, và nguy cơ phản loạn rất cao. Hoặc khi Thiên Tướng ngồi cùng với Tử Vi ở Thìn Tuất, bị coi là vô tình vô nghĩa, thì Phá Quân ở Thìn Tuất bị coi là bất trung bất nhân. Đây là do sự mất cân bằng của cặp diễn viên này.
Có thể nhìn rộng hơn, khi Phá cướp được Ấn, thiên Thiên Phủ theo đó cũng mất quyền lực vì Tướng thất thế, từ đó Sát ở phe Phá Quân sẽ thừa cơ cướp Phủ. Cục diện này bị phá vỡ, tất phe triều đình bị tổn hại, không những mất hết quân lương tiền bạc, mà còn mất luôn khả năng không chế loạn thần…
Ta vẫn chưa thấy nhóm lương dân Cơ Nguyệt Đồng Lương và nhóm Cự Nhật tham gia gì vào cuộc chơi của hai phe kia. Nghe chừng giống như diễn viên quần chúng, bàng quang trước thế sự, và thấp cổ bé họng chẳng có tiếng nói gì để tham gia. Thực ra chẳng phải như vậy. Dù ở vai nào, thế nào, thì vẫn luôn có cách để tham gia cuộc chơi. Đã không được quy hoạch để đường đường chính chính tham gia, thì tham gia theo cách của mưu sỹ, của sự liên hệ dưới dạng ám (mờ). Thật vậy, Thiên Cơ đứng ngay cạnh Đế tinh Tử Vi, diễn vai của hội đồng quân cơ tham mưu, được tuyển chọn thông qua thi cử và tài năng mà không theo chế độ truyền nối. Sức mạnh của Thiên Cơ chẳng thể xem thường, vì rằng Thiên Cơ biết được rất nhiều bí mật về nội chính và quân binh khi được sắp xếp cạnh Tử Vi. Nhất cự ly nhì tốc độ. Ở thế quá sát với Đế Vương, vừa lợi vừa hại, gần lửa rát mặt. Kẻ biết quá nhiều bí mật của nguyên thủ quốc gia, quyền thế có thể dưới một người trên vạn người nhưng cũng khó an toàn cho tấm thân. Một sai sót nhỏ cũng có thể dẫn đến di họa khôn lường. Thiên Cơ luôn nhị hợp với Phá Quân, và luôn lục hội với Thiên Tướng, cho thấy khả năng móc nối của Thiên Cơ với phe triều đình và phe đối lập đều rất khăng khít. Bên trong có thể nắm giữ thông tin của cả Tử Vũ Liêm và Phủ Tướng, bên ngoài có thể có mối quan hệ với Phá Quân (quan hệ nhị hợp – ám hợp). Do đó diễn viên Thiên Cơ luôn luôn phải tính toán, với nhiều thuật nọ nghệ kia, để có thể tồn tại trong mối quan hệ đa chiều và mạo hiểm như vậy. Có người nói rằng, Thiên Cơ là kẻ hai mang, không biết có đúng không. Phá và Sát ở thế bị kìm kẹp bởi Tướng và Phủ, thông quan Thiên Cơ để moi móc thông tin. Cũng như khi quyết định cướp chính quyền, hay đánh phá đồn địch, phải chọn “thời cơ” thích hợp. Chữ “thời cơ” này, được tính toán và quyết định thông qua Thiên Cơ. Như vậy, cách chơi của một nhóm lương dân (Thiên Cơ), đã dần được hé lộ. Ai diễn vai của Thiên Cơ, sẽ tự mình định hướng được phong cách thủ vai, để hoàn thành xuất sắc vai diễn.
Thiên Đồng luôn tam hợp với Thiên Cơ, đây là thông qua Thiên Cơ để liên hệ với nhóm triều đình. Dựa vào mối quan hệ cộng sinh này, những gì Thiên Cơ biết thì Thiên Đồng sẽ biết. Và Thiên Cơ cũng dựa vào diễn viên Thiên Đồng, để truyền đạt và thu thập thông tin. Đối tượng của Thiên Đồng là rất rộng. Ở thời hiện tại, Thiên Đồng cũng là cộng đồng mạng, là công nghệ thông tin, với tốc độ và khả năng phủ sóng rất nhanh và rộng rãi. Thiên Đồng luôn nhị hợp với Tham Lang, đây là mối quan hệ theo cách “ám-nhị hợp” với phe đối lập. Từ đây có thể thấy rõ hơn, ba nhóm sao đã nêu tạo nên mối quan hệ qua lại đa chiều phức tạp. Ta cùng xem thêm các diễn viên khác thủ vai như thế nào.
Thái Âm và Thiên Lương luôn tam hợp với nhau. Thái Âm luôn nhị hợp với Vũ Khúc, Thiên Lương luôn nhị hợp với Liêm Trinh. Như vậy cặp Âm Lương vốn đã qua lại khăng khít với nhóm triều đình Tử Vũ Liêm theo quan hệ “ám”. Thái Âm đứng cạnh Thiên Phủ, Thiên Lương đứng cạnh Thiên Tướng, sự móc nối này khiến mối quan hệ giữa hai sao này với phe triều đình thêm sâu rộng.
Thái Âm cũng được sắp xếp cạnh Tham Lang, Thiên Lương được phân bổ đứng cạnh Thất Sát. Đây là mối liên hệ giữa cặp Âm Lương với phe Sát Phá Tham. Thế đứng của Âm và Lương đưa đến những chiêm nghiệm thú vị. Xét riêng hàng xóm của Thái Âm là Thiên Phủ và Tham Lang chia nhau giáp hai bên, đẩy Thái Âm vào giữa hai thái cực của hai phe. Thái Âm buộc phải diễn vai của một nhân vật âm thầm mưu trí, kín đáo để không bị Tham Lang mưa móc, và cũng bảo đảm tính kín đáo cho kho lẫm Thiên Phủ. Lại xét lân cung của Thiên Lương, đứng giữa Thiên Tướng và Thất Sát thuộc hai phe khác nhau, phải diễn vai thanh cao ổn trọng để phù hợp với tính nghĩa hiệp của Thiên Tướng, và cũng để không bị Thất Sát lợi dụng.
Vậy còn Cự Nhật, một minh (Nhật), một ám (Cự) thì vai diễn như thế nào? Từ bất kỳ một cung nào đó, ta luôn thấy Cự Nhật đồng cung hoặc tam hợp. Thiên Phủ có muốn thông qua Cự Môn để ám, biển lận công quỹ, lũng đoạn tài chính, luôn có Thái Dương của vòng Tử Vi soi rọi ra ánh sáng. Sự sắp đặt cài cắm nhân sự của Tử Vi thật không tầm thường.
Cự Môn luôn lục hội với Tử Vi, tình huống tích cực là để can gián Tử Vi, giữ cho Tử Vi thi hành vương đạo mà không phải là bá đạo. Tình huống tiêu cực, Thiên Phủ dụ Cự Môn che mờ lý trí của Tử Vi với mục đích xấu. Từ đây, khi Thái Dương rơi vào thế hãm tối, không còn đủ sáng suốt (minh) để soi rõ Cự Môn, giải tỏa tính ám, thì cục diện trên lá số thường kém tốt. Cho nên Âm Dương phản bối thường vãn tuế mới thành công, do thời kỳ đầu đi trong mông muội, tối tăm dưới sự chi phối của Cự Môn. Đây cũng là cách thường thành công trong thời loạn, nhất là khi theo bá đạo chứ không phải vương đạo. Cự Môn cũng đứng giữa Tham Lang và Thiên Tướng, có mối quan hệ lân cung với cả nhóm triều đình và phe đối lập, sức mạnh của Cự Môn cũng chẳng thể xem thường.
Thái Dương luôn nhị hợp với Thiên Phủ, mối quan hệ ám này thể hiện hai mặt của Thiên Phủ vừa minh bạch công khai (Thái Dương) vừa kín đáo che đậy (Thiên Phủ). Dạng nửa kín nửa hở này nhằm tung hỏa mù đối với Thất Sát ở đối cung, vì Thất Sát luôn lục hội với Thái Dương, thông qua đây mà tìm cửa vào Thiên Phủ. Cũng thông qua Thái Dương mà ép Phủ phải công khai một phần tình hình tài chính kho lẫm. Qua đây, Thái Dương cũng thể hiện vai trò của mình, vừa soi rọi giải ám của Cự Môn, vừa tạo thế cân bằng cho Thất Sát và Thiên Phủ.Thái Dương cạnh Vũ Khúc, dưới sự chỉ đạo của diễn viên đầu vòng Tử Vi, vừa liên hệ với nhóm Sát Phá Tham và nhóm Phủ Tướng.
Ngẫu hứng săm soi lại các chính tinh, mới thấy rằng, mỗi cá nhân trong cuộc sống dù ứng hợp với chính tinh nào, cũng đồng thời phải diễn rất nhiều vai. Thực tế đúng như vậy! Việc còn lại, là xem xét kỹ chức năng nhiệm vụ và phạm vi cai quản của từng chính tinh, để cụ thể hóa vai diễn một cách chuyên sâu và chuyên nghiệp. Một phần quy tắc của trò chơi Tử Vi đã được hé mở thông qua thế đứng của chính tinh. Chúng ta tiếp tục tìm hiểu quy tắc ứng xử của từng chính tinh thông qua các phần tiếp theo…
Còn tiếp.








Read more…

Trường Panyaden xây bằng đất và tre dạy giáo lý Phật giáo tại Thái Lan

tháng 8 23, 2019 |

Trường Panyaden xây bằng đất và tre dạy giáo lý Phật giáo tại Thái Lan

Ngôi trường Quốc tế Panyaden tọa lạc tại thành phố Chiang Mai, miền Bắc Thái Lan, được xây dựng hoàn toàn bằng đất và tre. Lấy cảm hứng từ sự tôn trọng thiên nhiên, trường sử dụng cấu trúc vật liệu là đất và tre. Giáo lý của đạo Phật cũng được giảng dạy trong các chương trình học của nhà trường.
Hoa sen, biểu tượng đặc trưng của Phật giáo là hình ảnh trung tâm của toàn trường.

Ngôi trường Quốc tế Panyaden được thành lập vào ngày 18 tháng 05 năm 2011. Ngôi trường hòa mình giữa ruộng đồng xanh bát ngát, với hương lúa mặn nồng tình quê, cách thành phố lớn thứ hai của Thái Lan 15 phút về phía Nam.
Khu nhà rộng 5000m2, bao gồm các khối nhà lấy cảm hứng từ cây dương xỉ nhiệt đới, có nhiều tòa nhà được làm từ vật liệu xây dựng tự nhiên. Khuôn viên trường được chia thành hai loại nhà chính: căn nhà có lớp học với tường bằng đất đồi, cửa sổ bằng kính được làm từ vỏ chai tái chế và những tòa nhà mái vòm được làm bằng tre. Tất cả các tòa nhà được thiết kế giống như chim và lá, lấy cảm hứng từ các yếu tố thiên nhiên.
Toàn bộ tường và các vách ngăn phòng được xây dựng từ đất đúc và gạch không nung (đất sét trộn với cát và vỏ trấu) có khả năng chống nóng, lạnh và cách âm rất tốt. Tre, nứa đã qua chọn lọc và xử lý được sử dụng hoàn toàn để lợp thành nhiều lớp mái nhà cách nhiệt tốt và đem lại không gian thoáng mát.

Ngôi trường Quốc tế Panyaden còn tiết kiệm chi phí bằng cách tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời và điều kiện khí hậu tự nhiên. Với tiêu chí không cần sử dụng điều hòa vào mùa hè và thiết bị sưởi ấm vào mùa đông, tất cả các phòng học đều được thiết kế và lựa chọn vật liệu xanh đem lại không gian thoải mái nhất cho giáo viên và học viên.

Trong các giáo lý Phật giáo, mọi sinh vật được xem là một phần của một mạng lưới liên kết với nhau của cuộc sống, và thiên nhiên cũng có một vị trí quan trọng trong thế giới của chúng ta. Làm theo lời dạy của đức Phật, một ngôi trường nên được xây dựng từ vật liệu tự nhiên bởi nó thân thiện với môi trường và gần gũi với con người.
Hiện thân của triết học này có thể tìm thấy tại ngôi trường Quốc tế Panyaden, một cơ sở Phật giáo bền vững. Điểm nhấn là khu hội trường có tổng diện tích 782m2, được thiết kế giống như một nụ hoa sen mới nở, một biểu tượng đặc trưng của Phật giáo.
Hội trường gồm sân thể thao phục vụ các môn như bóng rổ, bóng chuyền, futsal, có sân khấu văn nghệ và phòng lưu trữ vật dụng thể thao. Với không gian rộng và thoáng mát, đây còn là nơi thường xuyên diễn ra các buổi hội họp của trường.

Trường quốc tế Panyaden là một trường song ngữ, ngoài tiếng Anh, học sinh ở đây còn được tiếp xúc với nhiều môn học đặc biệt, nhất là lĩnh vực nghiên cứu về cây rừng nhiệt đới…hướng tới một sự phát triển toàn diện gắn với yếu tố môi trường. Song ngữ quốc tế cho cả trường mẫu giáo và trẻ em phía Nam Chiang Mai và phía Bắc Thái Lan.

Trường thành lập để cung cấp một nền giáo dục toàn diện, tích hợp nguyên tắc Phật giáo và màu xanh lá cây với Chương trình Tiểu học Quốc tế (IPC). Trường Panyaden được chứng nhận là một trường đạt tiêu chuẩn quốc tế, sử dụng chương trình học của Anh quốc cùng với Chương trình Tiểu học Quốc tế (IPC) vào tháng 08 năm 2016. Tất cả các yếu tố khác, chẳng hạn như tiếng Thái và văn hóa, vẫn giữ nguyên.

Trường quốc tế Panyaden được đăng ký với Bộ Giáo dục Thái Lan, chương trình học được giảng dạy bằng cả tiếng Thái (50%) và tiếng Anh (50%) từ vườn ươm đến lớp 8/7 (cuối của trường tiểu học). Mỗi lớp đều có giáo viên Thái và giáo viên nói tiếng Anh lưu loát.
Chương trình giáo dục mầm non tập trung vào sự phát triển của bốn lĩnh vực: Thể chất, Cảm xúc, Đạo đức/Xã hội, Trí tuệ thông qua các hoạt động, học tập và tu tập thiền định.

Chương trình giáo dục tiểu học kết hợp với các nguyên tắc Phật giáo và nhận thức về môi trường với chương trình học Tiểu học Quốc tế (IPC), nhấn mạnh vào việc học hỏi thông qua kinh nghiệm trong khuôn khổ chương trình quốc gia về Anh Quốc, phát triển tư duy độc lập.
Nhà trường sử dụng cách tiếp cận hội nhập nhằm hỗ trợ hiểu sâu hơn về từng chủ đề và tính liên kết tự nhiên giữa chúng. Nó kích thích khả năng nhìn nhận các tình huống và đánh giá vấn đề từ mọi góc độ khác nhau. Các lớp “Kỹ năng sống” và tôn trọng người khác sẽ tạo cơ hội giúp học sinh thực hành các môn học chính, thông qua nhiều phương pháp và hoạt động khác nhau.

Cán bộ nhân viên bao gồm cả giáo viên tiếng Thái và tiếng bản xứ từ Canada, Mỹ, Úc và Anh.
Với cách tiếp cận tự nhiên đồng bộ từ hình thức đến công năng, mục đích của những người sáng lập là tạo ra cách tiếp cận gần gũi với thiên nhiên; từ đó giáo dục cho các em học sinh về ý thức bảo vệ môi trường.

Theo trang Designboom, trường Tiểu học Panyaden ở Thái Lan đã giành được giải thưởng lớn về thiết kế tổng thể và giải thưởng vàng cho sự phát triển bền vững tại giải thưởng thiết kế châu Á năm 2012.

Nguồn: The Buddhist Channel
Read more…

Cùng đọc lại Phú Ma Thị

tháng 8 19, 2019 |

Cùng đọc lại Phú Ma Thị.


Ngôi Tử Vi đóng vào chốn hãm
Quyền giải hung, thiểu giảm vô uy
Phủ phùng Không xứ tài suy.
Chung thân nan bảo, tư-cơ lưu truyền
Mấy người phú quí nan tuyền.
Bởi sao Nhật, Nguyệt chiếu miền Sát-tinh
Mấy người bất hiển công danh,
Là vì Nhật, Nguyệt đồng lâm Sửu, Mùi.
Song Nhật, Nguyệt hãm bên trong,
Xương, Khúc, chiếu, giáp; hưng long Phúc, Tài.
Mấy người nịch tử, hoả tai,
Phá Liêm gặp Hoả; Riêu ngồi Kỵ, Tham.
Khốc, Hư ngộ hạn mạc đàm
Hạn phùng Không, Kiếp ai làm cho nên.
Phượng, Long, Mão, Dậu đôi người
Vượng thời Kim bảng đề tên ở đầu.
Ân-quang, Thiên-quí, Sửu, Mùi,
Đường mây gặp hội danh cao bảng rồng.
Quan cung mừng được Đào, Hồng
Thiên-di tối kỵ Kiếp, Không Lâm vào.
Công danh đợi tuổi tác cao
Giáp Liêm, giáp Sát, một hào chẳng sai
Giáp Bát-toạ, giáp Tam-thai,
Thiếu niên dự được lâu đài nghênh ngang.
Thiên, Nguyệt-đức có Giải-thần.
Cùng là Quan Phúc, một làng trù hung.
Sét cho tường, chốn thuỷ cung
Kỵ tinh lạc hãm. Khoa, Đồng, Kình-dương
Đà đắc địa, Hoả chiếu phương
Linh-tinh hạn gặp tai ương chẳng lành,
Mấy người ít tuổi công danh,
Hồng-loan, Bát-toạ ở mình chẳng sai.
Xét xem phú quí mấy người,
Mệnh vô chính diệu trong ngoài Tam không
Đẩu-quân kỵ Tử tức cung
Kiếp, Cơ, tật ách phải phòng huyết hư.
Hạn lâm Riêu, Hổ khá lo,
Những loài thú dữ chớ cho đến gần
Vận hành Kỵ, Cự hung thần,
Phải phòng những chốn, giang tân mới lành.
Âm Dương đôi ngả cho minh
Âm tòng âm số, Dương hành dương cung
Hạn hành đại tiểu tương phùng
Cát thời thịnh vượng, hung thời chuân chuyên.
Dương, Đà xâm nhiễu Mệnh viên
Nói hay loạn thuyết những phiền lo tai
Số muộn màng con trai chưa có
Vì Kỵ, Đà len lỏi Tử cung
Ách phùng ác sát trùng xung
Khí Âm lạnh lẽo chẳng trùng khí Dương
Hồng-loan ngộ Kiếp, Không lâm thủ.
Sá chi bàn những lũ yểu vong.
Kỳ, Đà, Thái-tuế, Thân trung
Khỏi nạn lại được thung dung mấy người.
Phượng, Long, giáp Mệnh có tài
Trước sau vinh hiển, ra ngoài nổi danh
Sao Quang, Quí ấy Khoa tinh
Lâm vào Thân, Mệnh cao danh bảng rồng
Ngồi Quí hướng, chẳng phùng Không-Sứ
Gặp khoa thời, thủ cử chẳng sai
Giáp Nhật, Nguyệt trong ngoài Đồng, Cự
Ấy công thành danh toại khá khen
Con em sạ khứ, sạ hoàn
Bởi sao Nhật, Nguyệt hãm ngồi Nô cung
Bệnh lao, đàm thấp chẳng thông,
Bởi vì Tật ách, đã phùng Kiếp, Cơ.
Kiếp, Không hai gã khá lo
Lâm vào Huynh đệ cô đơn một mình.
Mẹ cha có phúc lành thượng thọ
Phụ mẫu cung phải có Thiên-lương
Cung Thê thiếp Đồng, Lương hội đó
Hai vợ cùng, một tổ sinh ra
Sao Thai mà ngộ Đào-hoa
Tiền dâm hậu thú, mấy ra vợ chồng.
Mệnh viên gặp Kiếp, Không lâm thủ
Kể chi bàn những lũ yểu vong
Ấn mang, vị liệt Công Hầu
Sao lành Tướng, Cáo hội vào Mệnh cung
Làng có giếng bỏ hoang chẳng uống
Sao Mộc tinh, đóng ở Tật cung
Nhật phùng hãm ngộ lưỡng Long
Có người phương ý, vẫy vùng không lên
Long-trì, Địa-kiếp cũng chen
Giếng bồi ao lấp, ở bên nhà này
Thiên-cơ ngộ Hoả chẳng hay
Phùng Không, Kiếp Mộc nỡ đầy quải lưu
Ngộ Hổ có thạch khuyển chiều
Ngộ Dương, Đà có thạch đầu dựng cao
Cái răng Bạch-hổ phù soi
Lai gia Tang, Điếu thương ôi hoàng tuyền
Tang-môn ngộ Hoả xấu sao
Nó vào phương nào, phương ấy hoả tai
Bệnh-phù ngộ Thiên-hình vô lợi
Ắt có người chịu tật phong sang
Phụ, Vi, ở Phúc-đức cung,
Phản phu có kẻ, họ hàng chẳng không.
Đào, Hồng, Sát, Phá, Tham, Liêm,
Lâm vào số gái chỉ hiềm sát phu
Tang, Đào ở Mệnh cung sau trước
Gái đã đành lỡ bước cầu ô
Ngọc trầm có vết đen tô
Thiên-khôi tại Tý, thủ đầu Mệnh Thân
Nhật, Nguyệt ngộ Đà tinh chốn hãm
Hoá-kỵ gia, mục ám bất minh,
Việt, Linh lại có Thiên-hình
Địa phương ắt cũng đã đành lôi kinh
Ngộ Cơ, Lương, đánh gẫy cành
Ngộ Âm, Dương ấy đã đành tan không
Hình, Riêu, Mệnh gái long đong
Ví chẳng lộn chồng, ắt cũng phản phu
Sao Kỵ, Đà hội Phu cung
Hại chồng chước quỉ, tính đường tinh ma
Riêu, Đào số gái ai hay
Chồng ra cửa trước, giắt tay trai vào
Ngộ Hình, gặp Quí dám đâu
Cùng là Tử, Phủ một mầu chính chuyên
Ghen đâu mà chẳng biết chồn
Tham cư vượng địa, phải nên đề phòng
Lỗ tai điếc lác lo phiền
Dương, Đà, Không, Kiếp, Cự miền Mệnh cung.
Mệng ấp úng nói không ra tiếng
Vì Tuế, Đà, Riêu, Cái Mệnh viên
Âm, Dương, Tuần, Triệt tại tiền
Mẹ cha ắt đã chơi tiên thuở nào.
Phúc-đức ngộ Tang, Đào, Hồng, Hỷ
Họ hàng thường có kẻ yểu phu
Lưu Tang, lưu Mã gặp nhau
Hạn cùng năm ấy Bò Trâu chẳng lành
Tham-lang, Bạch-hổ nào sinh
Dần, Tuất chốn ấy, lánh mình sơn lâm
Thai tinh ngộ Thái-âm cung Tử
Con phải vì cầu tự mới nên.
Tử cung Thai, Tướng, Phục-binh
Vợ chồng ắt có tư tình nơi nao
Họ hàng có kẻ binh đao
Tướng, Tuyệt, Tử, Phục lâm vào Phúc cung
Ân-quang phùng Đào, Hồng, Điền-trạch
Ấy cô dì lưu lại ruộng nương
Vợ chồng viễn phối tha hương
Đào, Hồng đóng chỗ vào hàng Thiên di.
Quan-phù, Tấu, Tướng, nghề gì?
Mệnh phùng Tả, Hữu tăng ni kẻo nào.
Hồng-loan, Tấu, Vũ, Hỉ, Đào,
Nhạc phường ca vũ danh vào cửa quan
Hình, Cơ, Khúc, Tấu một đoàn,
Trong nghề thợ mộc, khôn ngoan ai tầy.
Khéo nghề kim chỉ vá may
Cơ, Tang, Hồng, Phúc ở rầy Mệnh cung
Hồng-loan ngộ Kỵ, Phu cung
Tơ hồng chưa tắt má hồng đã xui
Hoả, Linh ngộ hãm Thiên-riêu
Ắt trong mình ấy, có tà chẳng yên.
Phụ, Bật, Khúc, Tướng đồng viên
Ngôi cao chính viện danh truyền y quan.
Phụ, Bật ngộ Thái-âm nhàn
Gái làm bà đỡ cứu đàn nhi sinh
Thiên-tài ngộ Nhật bất minh
Nết na lung láo, những khinh phật thần
Tý, Sửu Mệnh; Ngọ, Mùi nhân
Kiểu cư ngộ sứ, chẳng gần bản tông
Thê cung Kiếp, Không trùng xung
Trải hai, ba độ mấy xong cửa nhà
Tử cung ngộ Kiếp, Không gia
Nuôi con chẳng mát, đã ba bốn lần.
Khốc, Hư lại ngộ Dưỡng thần
Sinh nhiều nuôi ít, gian truân thuở nào
Hiếm hoi bởi ngộ Thiên-hình
Quí tinh trước cửa, đầy sân quế hoè
Không ngộ Phá, Tú Thê hào
Vợ chồng cách trở ba tao mới thành
Triệt, Tuần ngộ Mã, Hình Thê vị
Vợ bỏ chồng đào tị tha phương
Phá phùng Hình, Kỵ Huynh hương
Anh em bất thuận nhiều đường khi tranh
Phá-quân ngộ Hoả, Đà, Dương
Lâm vào Thìn, Tuất nết thường gian phi.
Thiên Hình, Dương-nhận Ngọ vì,
Lại gia Kiếp, Sát ưu nguy hình tù
Riêu, Đà, Dương, Sát cung Phu
Lại thêm Linh, Hoả vợ lo giết chồng.
Hoa-cái, Phượng Các, Đào, Hồng,
Trai toan nể vợ, trong lòng khôn khuây.
Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất
Gái bạc tình, Tham, Sát nhàn cung
Hạn phùng Riêu, Hỷ, Đào, Hồng
Giái, trai mà tưởng trong lòng dâm phong.
Quan-phù, Thái-tuế vận phùng
Tháng ngày chầu trực cửa công bồn chồn.
Cơ, Lương, Thái-tuế, Tang-môn
Lâm vào chốn hãm, cành con chớ trèo
Kỵ, Đà, Sát, Ách liền theo
Qua sông vượt bể ba đào chớ đi.
Tướng hãm phùng Không, Kiếp vì,
Làm quan thời chẳng cách quan mà về,
Phù, Hình, Không, Kiếp khả chê
Kẻ thù người ghét, toan bề nghịch hung.
Thai tinh, Long (Thanh Long), Hỉ vận này
Vợ thời thai dựng đến ngày khai hoa.
Kình-dương, Hoa-cái ngộ Đà
Hạn hành năm ấy, đậu hoa phải phòng
Phục-binh, Tuế, Kỵ, Kiếp, Không
Cùng người tranh cạnh, trong lòng chẳng nguôi.
Khoa, Quyền, Lộc, Mã, Văn, Khôi,
Công danh thành toại đến hồi hiển vinh.
Khốc, Hư ngộ Tang chẳng lành
Thương người bại của chẳng yên được nào.
Kiếp, Hư, Hình, Kỵ, Đà, Dương,
Gian nguy tật bệnh, dở dang ngại dần
Vận phùng Lộc, Mã cùng lưu
Dương, Đà, Kỵ, Nhật mắt đau phải phòng
Ngại hiềm Mã ngộ Không vong
Giặp sao Tả, Hữu hạn phùng cả đôi.
Hoả, Linh, Trì, Mộc, cùng soi
Lánh mình lửa cháy, nước sôi phải phòng
Hổ, Đà, Kỵ, Nhận tân toan
Đề phòng chó dại, hầm thiên dậy loàn.
Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Quả, Loan
Hôn nhân vận ấy, ứng hoàn thất gia
Dương, Phục, Vũ ở toà Ngọ vị
Vận gặp thời, chức trị Quản binh.
Dậu cung Thái-tuế, Thiên-hình
Tai sinh hoạ chí, dị sinh gông cùm.
Quan, Không, trùng kiếm, Võ, Tham
Đường mây thuở ấy đã cam bôn trì
Khốc, Hư ở Tý, Ngọ vì,
Quan cung lại gặp tiếng thời đồn xa.
Dần, Thân, Kỵ, Sát (Kiếp-sát) trùng gia,
Thương chiêu đã nhục, thực là gian nan.
Vợ giầu của cải muôn vàn,
Thái-âm ngộ Đức, Ân-quang, Mã, Đồng.
Thiên-hình, Sát, Hổ Tử cung,
Đến già chẳng thấy tay bồng con thơ.
Sinh cong điếc lác ngẩn ngơ,
Tử cung, đối chiếu Sát, Đà, Kiếp, Không.
Cơ, Lương, Lộc, Mã đồng cung
Phú gia địch quốc của dùng siết đâu.
Ngôi cao đức trọng công hầu
Mệnh phùng Quyền, Sát ở đầu Ngọ cung.
Hình lâm Quan lộc cư Đồng
Quản binh dẫn chức ân hồng quân vương.
Quan cao chấn ngự biên cương
Ngọ cung kiến Sát, Tử, Lương, Vũ, Đồng
Khôi, Lương, Thanh, Việt, Cái, Hồng
Trai cận cửu trùng, gái tác cung phi
Hồng, Khôi, Xương, Tấu phù trì
Sân rồng kéo bảng, danh đề ở cao.
Kỵ gia ở cửa màn đào
Làm nghề thuật sĩ, phong lưu nuôi mình.
Thê, Nguyệt-đức ngộ Đào tinh,
Trai lấy vợ đẹp, gái lành chồng sang.
Trong ngoài mà có Âm Dương
Ba lần danh dự một làng quan giai.
Khôi, Việt, Quyền gia trong ngoài
Trưởng nam, trưởng nữ gái trai đồng lần.
Mệnh Hoá-kỵ, tật Mộc thần
Âm ti, nang thấp, nhiều phần chẳng sai.
Lộc, Quyền nhờ bạn tri âm,
Lộc, Hồng của vợ, lấy đem làm giầu.
Sát phùng Phù, Hổ hay đâu,
Dạ Tràng thủa ấy âu sầu ngục trung.
Dương, Đà ngộ Mã tai xung,
Những lo đánh bắc, dẹp đông chẳng rồi.
Thiên Di bầy Mã, Binh ngồi
Đông trì, tây tẩu, pha phôi cõi ngoài.
Kiếp Không lâm vào Phúc Tài
Luận chưng số ấy, linh lai khó hèn
Triệt, Tuần đóng ở cung Điền
Tư cơ cha mẹ không truyền đến cho.
Kiếp, Không gian phi quanh co,
Đề phòng kẻo phải lộ đồ khảm kha
Hoả-tinh ngộ hãm oan gia
Hiệu là lửa cháy mấy hoà khỏi tai
Đại-hao lâm vào Phúc, Tài
Tán nhiều, tụ ít mấy ai nên giầu
Tử cung Không, Kiếp trùng giao
Bệnh phùng huyết tán thai bào phù hoa
Tật cung Hoá-kỵ cùng gia
Dương, Hư chứng ấy, ắt là hiếm con
Dương, Riêu bệnh ghẻ phong môn
Tuế, Đà loạn thuyết xuất ngôn chiêu nàn
Mệnh Đào, thân lại Hồng-loan
Vận phùng Tuế, Kiếp đả hoàn thê nhi
Hạn lưu Tuế Mệnh một vì
Gặp chưng năm ấy, vận thời gian nan
Tham, Liêm Tị, Hợi chớ bàn
Văn Vương thuở nọ, tân toan ngục tràng
Dần, Thân, Xương hội Tham-lang
Vận ông Quản Trọng phải vào nhà Linh
Kiếp, Không nhị vị khả ưu
Gặp sao Thiên-giải nhẽ cầu lại yên
Phá phùng Mão, Dậu khá phiền,
Thấy sao Nguyệt-đức tế liền lại qua.
Lao đao sớm tối bơ vơ,
Mệnh cung Cơ, Kỵ hản ra nhị vì.
Long đong đông tẩu, tây trì,
Chẳng qua Thiên-mã Thiên-di hãm nhàn.
Chơi bời du thuỷ, du sơn
Thiên-di gặp Mã hợp chàng Đà-la
Vợ chồng nay giận mai hoà
Phục-binh, Hoá-kỵ một toà thê cung
Khôn giò siết nỗi sâu nông
Sửu, Mùi, Tham, Vũ hội đồng Khúc Xương
Tí cung Thiên-phủ, Kiếp, Dương
Cuồng ngôn loạn ngữ nhiều đường loanh quanh
Thìn, Tuất, Thất-sát một mình
Gia trùng xung hạn, khôn thành hung phương.
Kỵ tinh, Xương, Khúc đồng hương
Nhan Hồi số ấy, nghĩ càng thêm thương
Bệnh-phù, Thái-tuế rõ ràng
Sửu, Mùi, Thìn, Tuất gặp Lương lại lành
Thiên-đồng cư Ngọ ngộ Kình
Một phương hùng cứ tiếng tăm anh hùng.
Cây Đào mọc ở Nô cung
Vong phu mắc tiếng, bất chung cùng chồng
Phúc cung ngộ hãm Kiếp, Không,
Họ hàng nhiều kẻ hành hung phi loài
Phá quân sao ấy tán tài
Lâm trạch bán hết lưu lai tổ điền.
Tiểu hạn, Cự, Vũ, Hoá-quyền
Chiếu hoa chấn thủ một bên phương ngoài
Mộ phùng Tả, Hữu đồng lai
Thăng quan tiến chức miếu đài nổi danh
Việt, Khôi, Trì, Các, Văn tinh
Vào thi ắt hẳn bẻ cành quế hoa
Sát phùng Tồn, Tử giải qua,
Một sao Kỵ đóng ắt là tốt tăm.
Thiên-lương ngộ Hoả chiếu lâm
Hại người tổn vật, ầm ầm tai ương.
Hãm tinh gia lại hãm Dương
Chẳng sinh kiện sự, thời thương thung đường
Sứ, Thương, Cơ, Hoả, Cự, Dương
Suy người, hại của nhiều phương ưu phiền
Kiếp, Không, Hao lại gặp Quyền
Nghe rèm liên luỵ, kẻ trên chẳng dùng.
Đại, tiểu ngộ Tham-lang xung
Phá tài, tổn của ắt phùng nhị Hao.
Linh phùng Sát, Phá hạn cao
Vua Văn thủa nọ phải vào ngộ linh
Hổ ngộ Âm miếu cũng xinh
Siêu thiên quan chức, vận lành mừng vui.
Cung Điền liền gặp Cơ, Lương
Mộc lâm tổ nghiệp, đến hồi sinh tại
Thiện tinh (Cơ) chiếu ở phương Đoài (Thân)
Có người lấy của phật đài hoạ to.
Dương gian gái đẻ phải lo
Kỵ lâm thường thấy tay vo bụng nằm
Ám tinh (Hoá Kỵ), Tham diệu đồng sâm
Gia trung thất vật gian dâm, loạn tài.
Tham phùng phụ nữ hoài thai
Đẻ rồi, bệnh phải đau rai nửa mình.
Thương người Cơ, Khốc gia lâm,
Hỷ cùng Dương hợp đã sâm người nhà.
Âm nhàn, Đà, Hổ, Tuế gia
Trước sân chợt thất huyên hoa rụng rời
Linh tinh, Việt hoả bên đoài,
Gia trung hương hoả kìa ai lạnh lùng
Quý hội hợp vào cung Thân, Dậu
Đến phật tiên cầu tự mới sinh
Sửu cung đều có Hung tinh
Kẻ đau, người bệnh tại ông Thành Hoàng.
Cấn, Dần, Sửu sao tàng Linh, Hoả
Con hồng tinh biến hoá cành cây
Long phùng Phượng, Hỷ cung hay
Vui mừng mới thấy, bi ai bỗng liền
Lộc-tồn, Tử cùng Thiên-mã hội
Ngộ Phi thường mừng buổi phong lưu
Kình-dương mà ngộ Thiên-đồng
Gặp Linh thủa ấy phải cầu hôn nhân,
Nhà đều sợ Phá-quân, Hao thủ
Ngộ Tử, Lương, trừ lũ Hung tinh
Việc người sích mích khá không?
Tử-vi, Khôi, Việt ba ông phải tìm.
Hợi, Tý gặp phải hiềm Phật, Thánh
Dậu, Thân lâm tính chốn liên đài
Tử, Tham, Khôi, Việt nam (Ngọ), đoài (Thân)
Long thần cầu đảo bệnh ai lại lành,
Mão, Thìn ngộ đã đành ông Táo
Ly, Tốn, phòng phải Cáo ôn binh
Di cung nếu giáp Quý tinh
Đi qua đến miếu phải kinh ma làm.
Mệnh Thân, Dậu đồng lâm Không, Kiếp.
Gia Triệt, Tuần phải khiếp gian nguy.
Mệnh cung ví có Tử-vi
Tương phùng hạn nhược vận suy chẳng hiềm,
Cung Huynh đệ Triệt, Tuần xung thủ
Chim đầu đàn vỗ cánh bay khơi
Tướng-quân, Lộc, Mã có người,
Giầu sang đảm lược, nên trai anh hùng
Tướng ngộ Đào, Hồng cùng chiếu,
Ngôi màn Đào có ả Thôi Nương
Tràng-sinh, Đế-vượng đa nhân
Giáp chiếu Nhật, Nguyệt có lần sinh đôi,
Đế-vượng ngộ Thai, Khôi, cùng Tướng
Có dị báo hai đám anh em
Thái Âm hiềm có Thiên-cơ
Âm cung mấy Phúc đồng sinh lưỡng bào
Tam Không, gia nội tao cát diệu
Ngộ Dưỡng tinh cũng nẻo con nuôi
Đào-hoa, Thai, Hỷ trong Khôi,
Ngoài ra Binh, Tướng ả vui loang toàng
Tướng, Phá, Phục trong làng Thai diệu
Ngoài Đào, Hồng, Hoa-cái Thiên-di
Có người dâm dục thị phi
Tư thông chi dựng kẻ chê người cười
Sao Hình thủ cùng người đánh lộn
Kỵ sinh lâm, lòng vốn bất hoà.
Lộc-tồn, Thiên-mã cùng gia
Có người buôn một, bán ba lên giầu
Vũ, Tướng ở đầu cung ấy
Nghệ bách công ai thấy cũng dùng
Tử, Tang, Tả, Hữu hội trung
Có người con gái lộn chồng tìm ra
Sao Xương, Tuế một toà đóng đấy
Thập lý hầu hẳn thấy một hai
Việt, Khôi, Khoa mục chẳng sai
Khôi huynh, Việt đệ là bài trong kinh
Triệt, Tuần ngộ Thiên-hình đóng đấy,
Người một phương chẳng thấy họ hàng
Kình tinh ngộ Kỵ, Âm, Dương
Ắt trong đái tật có người hại thê
Cung Thê thiếp, Đào, Hồng tương ngộ
Vợ mấy người đều có dung nhan
Có Riêu, ấy ngoại tình bàn,
Tử, Không ngộ Mã lắm đàn buớm ong
Mã chẳng gặp Tứ Không ở đó
Thời con nhà vọng tộc lương gia
Phượng, Long đẹp đẽ ai qua,
Hình dong mặt mũi, dỗ hoa tốt vầy.
Tang, Không, Khốc dị sinh hoán cải
Để di truyền vạn đại về sau.

Tử Kỳ Lân sưu tầm.
Lời bàn: Phú Ma Thị dạng thơ song thất lục bát dễ đọc dễ thuộc, tổng hợp khá nhiều trường hợp thực đoán rất hay. Tuy nhiên, trong quá trình truyền lại, có tam sao thất bản, nên khi đọc và áp dụng thực rất nên cẩn thận. Cũng như khi nhìn thấy các cách cục như Phú nói, cũng nên lưu tâm nắm chắc tính tình cốt cách của Mệnh cung và khí lực của Mệnh Thân, rồi mới nên quyết đoán. Không nên áp dụng vội vàng dễ sai.


Read more…