Ảnh hưởng của các sao phụ, tá, sát tới cung Huynh Đệ

tháng 9 06, 2018 |
Ảnh hưởng của các sao phụ, tá, sát tới cung Huynh đệ

1.Sao Lộc Tồn.

Lộc Tồn nên ở cung vượng, không gặp tứ sát, Địa Không, Địa Kiếp, chủ về trong anh chị em có người quý hiển. Nếu có thêm sao Trường Sinh đồng độ thì có duyên tốt với anh chị em. Nếu thấy sao Thiên Mã hội họp là chủ về anh chị em có người phát đạt ở nơi khác.

2. Sao Thiên Mã.
Thiên Mã có sao phụ tá cát hội hợp, anh chị em tuy ở tứ tán nhưng có thể giúp đỡ lẫn nhau.

Nếu có các sao cát và hung cùng hội tụ thì chủ về có anh em khác mẹ, hoặc anh chị em chia thành hai phe. Nếu sao cát hữu lực, thì chỉ chủ về một số thì xa cách nhau, một số thì vẫn qua lại với nhau.

3. Sao Tả Phù (Tả Phụ)

Sao Tả Phù (Tả Phụ) gặp cát tinh, thì chủ về được anh em trợ giúp; nếu gặp tứ sát, hình kỵ thì chủ về bị anh em làm cho liên lụy, thường vì giúp đỡ cho anh em mà chuốc việc không hay vào mình.
Tả Phù (Tả Phụ) gặp sao Địa Không, Địa Kiếp, lại gặp các sao sát kỵ, chủ về tình cảm vốn tốt đẹp nhưng bỗng nhiên xảy ra thay đổi, hoặc anh chị em xảy ra tai nạn bất ngờ.

4. Sao Hữu Bật

Sao Hữu Bật gặp "Vũ Khúc, Thất Sát", gặp thêm sát tinh, chủ về có hình khắc. Nếu cung Phụ Mẫu gặp các sao Đào Hoa, thì chủ về có anh em cùng cha khác mẹ.

Sao Hữu Bật gặp Địa Không Địa Kiếp, Hóa Kỵ, nhiều sát tinh thì không có anh em.

5. Sao Văn Xương

Văn Xương gặp Thiên Phủ, Tả Phù Hữu Bật thì được anh em giúp đỡ.
Văn Xương gặp Kình Dương Đà La, thì giữa anh em có sự tranh chấp.
6. Sao Văn Khúc.

Văn Khúc gặp Thất Sát, lại gặp thêm sát tinh thì anh chị em bất hòa. Nếu có Kình Dương Thiên Hình hội thì chủ tranh chấp, kiện tụng

6. Sao Thiên Khôi.

Chủ về quý mà không chủ về giàu có. Gặp các sao cát thì chủ về anh em nâng đỡ ủng hộ nhau.

7.Sao Thiên Việt

Giống Thiên Khôi, nhưng lực đề kháng sát tinh không bằng Thiên Khôi

8. Sao Hỏa Tinh, Linh Tinh

Không ưa gặp các sao Liêm Trinh Thất Sát, Phá Quân chủ về ít anh em
Nếu gặp sao Địa Không Địa Kiếp, Hóa Kỵ thì anh em có hình khắc. Nếu gặp sao Tham Lang là chủ về anh chị em có tài lộc bất ngờ, nếu gặp thêm Hóa Kỵ, Đại Hao, sát tinh thì không phải.

9. Sao Kình Dương.

Gặp Hóa Kỵ, Thiên Hình là chủ về tranh chấp, kiện tụng, nếu gặp Thiên Lương thì càng đúng (Do Thiên lương có tính " tù")

10. Sao Đà La.

Chủ về anh chị em ít qua lại nhưng không bất hòa. Nếu gặp Thiên Mã, thì chủ về anh chị em rời xa quê hương.

11. Sao Địa Không.

Là chủ về mệnh có anh chị em khác mẹ, hoặc cũng chủ về anh chị em ở xa nhau. Nếu gặp thêm sát tinh thì trong anh chị em có người có ý xấu với mệnh tạo.

12. Sao Địa Kiếp.

Cũng chủ về có anh chị em khác mẹ hoặc ở xa nhau. Nếu Địa Khôn, Địa Kiếp giáp cung Huynh Đệ, thì bất lợi về anh em. Địa Không Địa Kiếp giáp Liêm Trinh Hóa Kỵ, chủ về trong anh em có chuyện thương tâm.

Read more…

Luận đoán cung Tử Nữ (cung Tử Tức)

tháng 9 06, 2018 |
Cung Tử Nữ (cung Tử Tức), ngoài việc dùng để luận đoán mối quan hệ giữa mệnh tạo và con cái, số con cái, tính cách của con cái, còn dùng để luận đoán mối quan hệ nhân tế giữa mệnh tạo với hậu bối, như môn sinh đệ tử, người mệnh tạo đề bạt, phù trợ, hoặc những người dưới quyền có quan hệ mật thiết, như trợ lý, thư ký,v.v…

Giả dụ như bạn là ông chủ của một cửa tiệm, thông thường quan hệ nhân tế với người làm công chỉ xem cung giao hữu (Cung Nô Bộc), nhưng giả sử có một người làm công là tay trái hay tay phải của bạn, mà bạn còn có lòng đề bạt người ấy, khiến họ có thể thay bạn xử lý mọi việc, thì quan hệ nhân tế với người này sẽ được ở cung Tử Nữ (cung Tử Tức).

Trong Mệnh bàn Tử Vi đẩu số, cung Tử Nữ (Tử Tức) và cung Điền Trạch luôn xung đối nhau, tương hội với cung Phụ Mẫu và cung Nô Bộc (cung Giao Hữu). Kết cấu dạng này rõ ràng phản ánh chế độ đại gia tộc thời xưa.

Đại gia tộc trong xã hội phong kiến, con cái (Tử Nữ/ Tử Tức) là do đầy tớ (Nô Bộc) phục dịch, do đó cung Nô Bộc có ảnh hưởng nhất định tới cung Tử Nữ (cung Tử Tức), đồng thời có thể nhìn ra qua hệ “kế thừa sự nghiệp của cha ông” từ tổ hợp các sao của cung Phụ Mẫu và cung Tử Nữ; còn cung Điền Trạch, Đẩu Số dùng để quan sát gia trạch, đương nhiên càng tương quan với cung Tử Nữ. 

Do đó nếu nói tổ hợp tinh hệ của cung Huynh Đệ là phô bày  cả một đại gia tộc, dùng để quan sát tình huống thế hệ bề ngang của mệnh tạo, thì tổ hợp tinh hệ của cung Phụ mẫu và cung Tử Nữ là một biểu đồ theo chiều dọc. dùng để quan sát từ ông tổ tới cha mẹ, rồi từ cha mẹ tới con cái, cả một dòng họ truyền đời từ đời trước sang đời sau.

Ngày nay, chế độ đại gia tộc theo kiểu phong kiến đã sụp đổ, kết cấu tinh hệ của cung Tử Nữ và tam phương tứ chính đương nhiên đã mất đi một số ý nghĩa ban đầu. Nhất là cung Nô Bộc, ngoại trừ dùng để xem mối quan hệ giữa nhân viên làm thuê và người dưới quyền, ngày nay còn dùng để quan sát quan hệ bạn bè, đương nhiên cảm thấy quá xa cách cung Tử Nữ. Vì thế trong thực tế ứng dụng cần phải định ra thêm một số nguyên tắc khác.

Sự tương quan hợp lý nhất giữa hai cung đó là lấy sự quan sát “mối quan hệ gia tộc” như trước kia cải biến ra thành quan sát địa vị xã hội. Bởi vì từ các trạng thái tốt xấu của cha mẹ, nhân viên làm thuê và bạn bè, cho tới con cái của Mệnh tạo, có thể luận đoán ra địa vị xã hội của họ. Ví dụ như ba cung đều cát, thì mệnh tạo phải là người lúc nhỏ được cha mẹ nuôi dạy khá tốt, bản thân cũng được bạn bè giúp đỡ ủng hộ, đồng thời còn được nhân viên làm thuê trợ lực, đến trung niên thì phát triển sự nghiệp, đến vãn niên thì có con cái có thể kế thừa sự nghiệp của cha ông. Người này là loại người điển hình của loại “lúc nhỏ là thiếu gia, về già gọi là đại gia”. Có địa vị xã hội như thế nào chắc không cần phải nói. Nếu cung Phụ Mẫu và cung giao hữu đều không cát tường cung Tử Nữ có cát tinh tụ tập, như vậy có thể luận đoán mệnh tạo rất có khả năng phải trải qua gian nan vất vả, rồi mới tay trắng làm nên sự nghiệp, sau trung niên ít nhất cũng có địa vị vào hạng trung lưu.

Dựa vào điểm suy đoán này, có thể giúp chúng ta luận đoán vận trình của bản thân mệnh tạo. Ngược lại từ vận trình của bản thân mệnh tạo cũng có thể luận đoán ra con cái của mệnh tạo có thành tựu hay không.

Ví dụ như cung Phụ Mẫu cát, cung Mệnh cũng cát, cung giao hữu không xấu, nhưng cung Tử Nữ lại rất xấu, thế thì, khả năng không có người kế thừa, cũng có thể là con cái bất tài, phẩm hạnh quá kém.

Vì vậy, có thể căn cứ vào tinh bàn để tìm ra một số chỉ dẫn. Ví dụ như, quan sát sự hiển thị của cung Tử Nữ để biết tính cách của con cái mệnh tạo mà đưa ra một số lời khuyên.

Đây cũng là nói, tam phương tứ chính của cung tử nữ ngoại trừ xem có con nhiều hay ít, còn luận đoán tình cảm của mệnh tạo với con cái, tính cách chủ yếu của con cái. Nhưng liên quan về những luận đoán này, chúng ta phải kết hợp xem cung Tử Nữ của đại vận hay lưu niên để đánh giá về vận mệnh của con cái, xem có thành tựu hay không.

Ở thời hiện đại, luận đoán số con cái đã không còn ý nghĩa, nhưng phép tắc luận đoán của cổ nhân truyền lại vẫn có thể dùng để tham khảo, bởi vì dựa vào đó để luận đoán có hậu bối trợ lực hay không, nhiều hay ít.

Thời cổ  đại, phép tắc luận đoán cung Tử Nữ (Cung Tử Tức) như sau: Căn cứ tổ hợp sao của cung Tử Nữ (cung Tử Tức) để định số con cái, và phẩm  cách địa vị của chúng, sau đó tham chiếu các sao phụ, tá, cát, hóa của bản cung xem có hình khắc hay không, số con tăng hay giảm, phẩm cách địa vị thay đổi ưu liệt thế nào,v.v…Lúc luận đoán, đương nhiên phải lấy bản cung làm chủ, sau đó tham khảo tam phương tứ chính. Thông thường, nếu các sao bản cung là sao thiện, gặp các sao phụ, tá không những chủ tăng về số con cái, mà địa vị con cái cũng tăng cao, nếu hội các sao sát kỵ, hình, hao, Không, Kiếp sẽ chủ về con cái có hình khắc. Nhưng nếu bản cung là các sao ác, thì các sao phụ tá chỉ biểu thị tăng số con cái, trừ phi cấu tạo thành cách cục, nếu không sẽ không biểu thị sự cải thiện về phẩm cách, địa vị con cái. Nếu có các sao sát kỵ hình, hao, Không Kiếp hội hợp, thì không xem là hình khắc, mà chỉ đánh giá về phẩm cách địa vị của con cái.

Cổ nhân luận đoán cung Tử Nữ (cung Tử Tức), tam phương tứ chính hội nhiều sao Nam Đẩu, chủ về sinh con trai trước, hoặc nhiều con trai; hội nhiều sao Bắc Đẩu thì chủ về sinh con gái trước hoặc sinh nhiều con gái; còn cho rằng người sinh vào ban ngày mà gặp Thái Dương bay vào cung Dương thì chủ về phần nhiều sinh con trai, người sinh vào ban đêm thì ưa Thái Dương bay vào cung Tử Nữ (cung Tử Tức), nếu ngược lại thì chủ về hình khắc phân ly. Thảy đều có thể dùng để tham khảo.

Phương pháp luận đoán của cổ nhân, dùng để luận đoán mối quan hệ nhân tế giữa bản thân với hậu bối, mức độ chính xác cũng khá cao. Theo bí truyền của phái Trung Châu Vương Đình Chi, hễ gặp sao lẻ phụ tá, thường là chủ về con cái khác mẹ, thời cổ đại, phần lớn là thê thiếp sinh con trai, hoặc dưỡng tử lo thừa tự, nhưng ở thời hiện đại quan hệ nhân tế phức tạp, phải bao gồm cả con cái khác cha của phụ nữ nhiều lần hôn nhân.

Xem con trai song sinh, nếu đồng thời bị Hỏa Linh, Tinh Tinh giáp cung,Địa Không, Địa Kiếp giáp cung hay Kình Dương Đà La giáp cung thì không đúng.

Lộc Tồn ở cung Tử Nữ (cung Tử Tức), chẳng biểu trung cho con cái giàu có (hội Hóa Lộc mới đúng); nếu chính diệu không rất cát, thì chủ về thứ thất sinh con trai. Ở thời hiện đại, thường lại là vợ sau cùng sinh con trai; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ thì càng đúng.

Cung Tử Nữ (cung Tử Tức) có Hỏa Tinh, Linh Tinh cùng bay đến, hoặc gặp Thiên Mã, Lộc Tồn, chủ về con cái ở xa.

Read more…

Phá Quân ở cung Tử Tức (cung Tử Nữ)

tháng 9 05, 2018 |
Phá Quân ở cung Tử Tức (cung Tử Nữ)

Phá Quân ở cung Tử nữ, phần lớn cũng ít cát tường. Cơ bản có thể phân định một số đặc tính như sau:

Sao Phá quân nhập cung Tử nữ, chủ về con đầu bị "hình thương", phần nhiều sinh thiếu tháng, sinh non; nhị phòng hay kế thất sinh con trai thì đỡ hơn, lập con thừa tự trước cũng được.

      Phá quân nhập miếu, chủ về có ba con trai, tính cương cường. Gặp sao Lộc thì con cái làm hưng thịnh gia nghiệp.
      Phá quân thủ cung Tử nữ gặp tứ Sát, chủ về có một con trai nhưng không đắc lực.

      Phá quân gặp Kình dương Đà là, là tương sinh mà có khắc chế, chủ về có một con trai nhưng khó nhờ.

      Phá quân gặp Hỏa tinh, Linh tinh, Địa không, Địa kiếp, chủ về có một con trai nhưng khó nhờ.

      Phá quân nhập cung Tử nữ, con trưởng dễ bị phá tướng, hoặc nói cà lăm, sinh thiếu tháng, hoặc khó sinh, hoặc thắt cổ tự tử, hoặc cho làm con nuôi. Cần xem tổ hợp sao thực tế mà định.

Cổ nhân cho rằng, Phá Quân ở cung Tử Nữ, sinh con gái đầu lòng thì tốt hơn. Gặp sao “lẻ” phụ, tá, sẽ chủ về kế thất hoặc nhị phòng sinh con trai. Nếu gặp thêm Văn Xương, Văn Khúc, các sao đào hoa thì chủ về ở rể.

Phá Quân có Hỏa Tinh đồng độ, chủ về cha con chia ly.

Phá Quân ở hai cung Dần hoặc cung Thân, nếu cung thân hay cung Mệnh gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng chủ về cha con chia ly.

Phá Quân hội các sao sát kỵ, hình, chủ về hình khắc, dù có con trai cũng không được nhờ cậy. Nếu hội Vũ Khúc Hóa Kỵ, có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp hội chiếu thì con trai có thể bị tàn tật.

Phá Quân ở cung Tử Nữ (cung Tử Tức) tất gặp sao Thiên Tướng vây chiếu. Nếu Thiên Tướng được “Tài Ấm giáp Ấn” hoặc “Hình Kỵ giáp Ấn” đều có ảnh hưởng tới cung Tử Nữ.

Phá Quân có sao Lộc, sát tinh nhẹ thì con cái bị tai nạn, bệnh tật hung hiểm, nhưng rốt cuộc có thể hóa giải, cũng chủ về con cái có thể tay trắng làm nên sự nghiệp.

Phá Quân Hóa Lộc có sát tinh nặng, thường chủ về chính thất sinh con trai nhưng khó nuôi, kế thất hoặc thứ thất sinh con trai thì tốt hơn.

Phá Quân ở hai cung Tý Ngọ, gặp sao “đôi” phụ, tá chủ về có ba con, nhưng tính cương, dễ có sự ngăn cách giữa hai đời. Nên chú ý điều hòa mối quan hệ với hậu bối thân tín, nhưng chủ về có đệ tử giỏi. Gặp Liêm Trinh Hóa Lộc, thì hai đời có tình thâm

Sao Phá Quân ở hai cung Tý hoặc Ngọ, gặp Liêm Trinh Kỵ, chủ về đến trung niên con cái nhiều tai nạn, bệnh tật,sát tinh nặng còn xảy ra bất trắc.

Phá Quân lạc hãm ở hai cung Dần/ Thân, con cái hiếm muộn, hoặc người bên ngoài sinh con trai. Có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, sẽ chủ về ít con cái, mà còn chia ly với gia đình, hoặc cho làm con nuôi.

Phá Quân ở hai cung Dần/ Thân, gặp Vũ Khúc Hóa Lộc, hoặc bản thân Phá Quân Hóa Lộc, thì chủ về con cái phá gia sau mới thành gia. Cần quan sát kỹ tinh bàn xem xảy ra sự cố gì. Gặp Vũ Khúc Hóa Kỵ vây chiếu, sát tinh nặng, chủ về con cái bị hình khắc, hoặc con cái thất bại. Cần phải xem kèm các đại hạn và lưu niên để luận đoán. Mối quan hệ với hậu bối cũng được luận đoán tương tự như vậy.

Phá Quân ở hai cung Thìn/ Tuất, nếu gặp các sao phụ, tá cát chủ về có ba người con; nếu gặp sát tinh chỉ có một con trai; gặp Sát tinh thì con cái đắc lực, gặp sát tinh thì con cái không đắc lực. Nếu gặp sao Lộc, dù sát tinh ít cũng chủ về con đầu cơ thể hư nhược, tiên thiên bất túc. Nếu gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, chủ về con cái phóng đãng mà không chu về rời xa quê hương để phát triển.

Sao Phá Quân ở cung Tử Nữ (cung Tử Tức), đại khác các cung hạn Tử Nữ di Thiên Cơ, Thiên Đồng,  Liêm Trinh hay Vũ Khúc tọa thủ là những đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung có tính then chốt.

Read more…

Phá quân ở cung Phối (cung Phu Thê)

tháng 9 05, 2018 |
Phá quân ở cung Phối (cung Phu Thê)  

Phá Quân ở cung Phối, phần lớn là điềm tượng ít cát lành.

Nam mệnh chủ về khắc vợ, hoặc chia ly rồi lấy người khác, nên kết hôn muộn; 
- Thường gặp nhiều sóng gió, trắc trở, gần nhau ít mà xa nhau nhiều, sở thích không hợp nhau, dễ vì giận hờn mà chia ly, trong hạn Cát thì có thể tái hợp.

- Gặp thêm lục cát tinh thì tình cảm thiếu thú vị, hoặc chủ về vợ lớn tuổi hơn chồng, hoặc ở chung mà không có nghi lễ chính thức, hay sau khi kết hôn thì ở hai nơi.


- Có Vũ khúc đồng độ chủ về sinh ly, có thêm Hóa Kị chủ về người phối ngẫu bị nạn tai bệnh tật. (Vũ Khúc thường chủ về cắt xẻ, vụn vặt, gặp Phá Quân chủ Hao tán, tinh hệ Vũ Phá Hóa Kỵ thường đưa đến tai nạn hoặc bệnh tật phải mổ xẻ). Nếu thấy Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ thì tình hình tai nạn bệnh tật thường xảy ra nhanh và phức tạp . Tinh hệ Vũ Khúc – Phá Quân ở đất tứ Mã, cũng chủ về người phối ngẫu bôn ba vất vả, hoặc vợ chồng hai nơi. Do đó nếu hội sát hình tinh dễ đưa đến tình trạng chia ly. Phá Quân hội Vũ Khúc Hóa Kỵ (can Nhâm) ở cung Hợi thường không có lạc thú khuê phòng, ở cung Tỵ gặp sao Phi Liêm, chủ  chủ về phá bại, vợ chồng dễ thay lòng đổi dạ. 

- Có Liêm trinh đồng độ chủ về có người tình bên ngoài. Liêm chủ về cái chính, trinh. Phá Quân lại chủ bỏ, hao tán. Tinh hệ này thường xảy ra tình trạng nội tâm đấu tranh dữ dội ở cái nghĩa Quân- Trinh, giữa tình vợ chồng (Trinh) và tình riêng (Quân). Do đó nếu gặp thêm sao “lẻ” phụ tá hoặc sát tinh thì chủ bất hòa, thêm đào hoa tinh thì dễ ngoại tinh. Nếu Liêm Trinh Hóa Kỵ, chủ về người bạn đời bất hòa với anh em mệnh tạo. Nếu Liêm Trinh Hóa Lộc thì chủ về hôn nhân hạnh phúc, nhưng nếu thấy thêm sao đào hoa đồng cung thì dễ có tình nhân bên ngoài. Nếu Phá Quân Hóa Lộc, đối với nam mệnh thì chủ về bị vợ đoạt quyền, với nữ mệnh thì chủ có chồng làm ăn phát đạt.

- Đồng độ cùng Tử vi thì nên lấy người lớn hơn tuổi. Cũng chủ về vợ đoạt quyền chồng (mệnh cung là Thiên Phủ chủ bảo thủ giữ gìn, Phá ngộ Tử chủ về tranh đoạt địa vị, tranh quyền)

- Nếu gặp Lộc tồn, Hóa Lộc thì trái lại, sẽ chủ về bất lợi cho gia đình, nam mệnh thì vợ chế ngự chồng, nữ mệnh thì chồng có tính gia trưởng, ưa chi phối vợ. Trước hôn nhân thường gây ra sóng gió trắc trở, sau kết hôn chủ vợ chồng tranh đoạt lẫn nhau.

- Phá quân độc tọa cung Thê ở Tý hoặc Ngọ, chủ về người phối ngẫu tính cương, vợ đoạt quyền chồng. Phá quân Hóa Quyền thì vợ chồng tuổi tác ngang nhau. Nếu hội Tham Lang Hóa Lộc (can Mậu, ắt có Kình Đà hội hợp), gặp các sao lẻ Văn Xương, Văn Khúc, hoặc các sao Đào Hoa chủ về bản thân mệnh tạo có tình nhân bên ngoài. Nếu Tham Lang Hóa Kỵ thì chủ bạn đời có tình nhân bên ngoài.

Phá Quân ở Tý Ngọ, đối cung là hệ “Liêm Trinh, Thiên Tướng”, nếu bị Hình Kỵ giáp Ấn thì cần phải xem Phá Quân có sát tinh đồng độ hay không để định tính chất không lành của nó. Có Địa Không Địa Kiếp đồng cung chủ về chia ly. Có Kình Dương Đà La đồng cung sẽ chủ vợ chồng bất hòa; nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung thì chủ vợ chồng hình khắc hoặc bị tai nạn, bệnh tật

Phá Quân thủ cung Phu Thê ở Tý hoặc Ngọ, các  cung hạn Phu Thê Thái Dương, Cự Môn, Thiên Đồng là những đại vận, lưu niên ứng nghiệm cát hung có tính then chốt.

- Phá quân độc tọa cung Thê ở Dần hoặc Thân, nữ mệnh chủ về trước hôn nhân hủy bỏ hôn ước, hoặc yêu người đã có vợ, còn chủ về người phối ngẫu bận rộn vất vả. Nam mệnh có thể lấy vợ hiền thục. Nhưng bất kể là nam hay nữ mệnh, đều chủ về vợ chồng gần nhau ít mà xa nhau nhiều. Phá Quân chủ hao tán lao lực, đóng đất tứ Mã thường phải bôn ba vất vả, cũng chủ về người vợ lanh lợi tháo vát.
Phá Quân độc tọa cung Phu Thê ở Dần hoặc Thân, nếu đối cung là tinh hệ “Vũ Khúc, Thiên Tướng” được Tài Ấm giáp Ấn thì không nên gặp Văn Xương Hóa Kỵ, chủ trải qua sóng gió trắc trở mới thành được vợ chồng, còn chủ về không có hôn lễ chính thức, nếu không sẽ chủ về sau khi kết hôn có một thời kỳ xa nhau. Nếu đối cung là tinh hệ “Vũ Khúc, Thiên Tướng” bị Hình Kỵ giáp Ấn, có thể tham khảo đoạn Phá Quân độc tọa cung Phu Thê ở Tý hoặc Ngọ. Trường hợp hội Tham Lang, nếu Hóa Lộc, Hóa Kỵ, cũng có thể tham khảo ở trên.

Đối với Phá quân độc tọa cung Thê ở Dần hoặc Thân, các cung hạn phu thê “Thiên Đồng, Cự Môn”, “Thái Dương, Thiên Lương” là những đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung có tình then chốt.

- Phá quân độc tọa cung Thê ở Thìn hoặc Tuất, chủ về vợ tính cương cường. Nếu cung mệnh hoặc bản cung gặp sao Kị, sao Không, Tả phụ, Hữu bật thì dễ chia ly; nữ mệnh nên giúp chồng về sự nghiệp, phối hợp với chồng gánh vác trách nhiệm gia đình. Phá Quân rơi vào lưới Thiên La Địa Võng, ý chí thoát lưới, vùng vẫy rất mạnh, lại bị đối cung có Tử Vi Thiên Tướng kiềm chế, thường gây ra thái độ phản kháng mạnh mẽ. Do đó cổ nhân do là tính cương cường, dễ trắc trở chia ly. Cũng chủ về người phối ngẫu mang tiếng chịu oan.


Trường hợp này tuổi tác vợ chồng nên chênh lệch nhau. Đối cung Tử Vi, Thiên Tướng nếu có bách quan triều củng, sẽ chủ về bạn đời có sự nghiệp tốt, nhưng giữa vợ chồng có sự ngăn cách

Nếu Tử Vi, Thiên Tướng được Tài Ấm giáp Ấn, chủ về tuổi tác vợ chồng  chênh lệch nhau nhiều. Nữ mệnh nên lấy chồng tuổi hơn mình nhiều (khoảng 12 tuổi trở lên), thì có thể được chồng lo lắng chăm sóc.

Nếu Tử Vi, Thiên Tướng bị Hình Kỵ giáp Ấn, hoặc Phá Quân hội Tham Lang Hóa Lộc, Hóa Kỵ có thể tham khảo đoạn thuật ở trên.

Phá Quân Hóa Quyền độc tọa cung Phu Thê tại Thìn hoặc Tuất, nếu không gặp Văn Xương, Văn Khúc hoặc các sao Đào Hoa khác thì cát, nếu có thì chủ bản thân mệnh tạo có tình nhân bên ngoài. Nếu Phá đồng cung với Đà La, thường dễ yêu người đã có gia đình, do đó mà rối rắm khó xử.

Phá quân độc tọa cung Thê ở Thìn hoặc Tuất, các cung hạn Phu Thê “Vũ Khúc, Thiên Phủ”, “Thái Âm, Thái Dương”, Thiên Đồng là những đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm cát hung có tính then chốt.

- Phá Quân gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, hoặc bị Hỏa Tinh Linh Tinh giáp cung, chủ về hôn nhân bị phá hoại, hoặc bị áp lực, không nên kết hôn sớm. Nếu kết hôn sớm, hoặc trước hôn nhân thuận lợi, thì sau kết hôn sẽ chủ bất hòa, hoặc tình cảm vợ chồng nguội lạnh.

- Phá Quân bị Kình Dương Đà La hội chiếu, chủ về trước hoặc sau kết hôn, hai bên từng chia ly một lần.

- Phá Quân gặp Địa Không, Địa Kiếp hoặc bị Địa Không Địa Kiếp giáp cung, cung chủ về vợ chồng có duyên mà không có tình

- Phá Quân gặp các sao lẻ phụ tá, chủ về hai lần kết hôn, hoặc sau khi kết hôn có người thứ ba xen vào, hoặc lúc yêu nhau có quan hệ tay ba. Đồng độ với Lộc Tồn, chủ người bạn đời có tính cách ích kỷ, nếu lại gặp sát tinh chủ về hôn nhân bị gia đình cản trở, hoặc bạn đời bất hòa với gia đình của mệnh tạo.

- Phá Quân bị Kình Dương, Đà La giáp cung (Phá ngộ Tồn), lại bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung, chủ về bạn đời bất hòa với gia đình của mệnh tạo, và mệnh tạo bất hòa với thân gia.

Read more…

Sao Phá quân ở cung Huynh đệ

tháng 9 05, 2018 |
     
      Sao Phá quân chủ về anh em ở riêng hoặc hình khắc.

     Sao Phá quân thủ cung Huynh đệ, bản thân thường là con cả, hoặc tuy ở hàng thứ hai hay ba, nhưng trong một số tình hình tuy không phải là con cả mà cũng giống như anh cả (Việt Nam hay dùng ngữ "thứ đoạt trưởng". Như trường hợp anh cả mất sớm hoặc làm con nuôi người khác, hoặc chị gái đi lấy chồng, hoặc bản thân làm con nuôi người khác.
Sao Phá Quân thủ cung Huynh Đệ, phần nhiều chủ về có khuyết điểm; hội sát tinh chủ về cô độc; hội các sao hình kỵ thì anh em bị hình khắc, bạn tri giao trở mặt. Dù hội các sao phụ, tá cát cũng bất lợi về anh cả hay chị cả. Nếu Lộc Tồn đồng cung thì phải một mình gánh vác trách nhiệm của anh cả hay chị cả; hợp tác với người khác cũng chủ về lập ra mà không chủ thủ hoạch.

Phá Quân thủ cung Huynh Đệ, có thể không có anh em, nếu không, anh em tuổi tác chênh lệch rất nhiều, từ 8-10 tuổi.

      Phá quân có lục Cát tinh đồng độ hoặc hội chiếu, chủ về anh em nương tựa lẫn nhau. cát tá hội chiếu thì có thể mượn lực của người khác mà sáng lập sự nghiệp. (Nhưng chú ý nếu có Lộc Tồn đồng độ thì tình hình sẽ ngược lại)

      Phá quân thủ cung Huynh đệ, có Sát tinh hội chiếu, thì chủ về hình khắc cô độc. Như có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, còn gặp Địa Không Địa Kiếp, chủ về anh em có cha mẹ "lưỡng trùng" (như cho làm con nuôi, hoặc bị bỏ rơi), nếu không sẽ chủ về chia ly nơi khác. Cho nên gặp cách này không nên hợp tác với người khác, nếu không sẽ gãy đổ giữa chừng.

      Sao Phá Quân đồng độ cùng với sao Tử vi, chủ về ba anh chị em, nhưng anh em bất hòa hoặc có anh em khác mẹ, đồng sự thì dễ kết bè kết đảng.

      Phá quân đồng độ cùng với Vũ khúc, chủ về hai người, gặp Sát tinh thì một người nhưng thiếu hòa mục.

      Phá quân đồng độ cùng với Liêm trinh thì chỉ một người.
  
Phá Quân ở hai cung Tý hoặc Ngọ thủ cung Huynh đệ, cát hung phần nhiều ứng nghiệm lúc đến lưu niên Phá Quân,  Thất Sát, "Liêm Trinh, Thiên Tướng thủ cung Huynh Đệ)

Phá Quân ở hai cung Dần Thân, thủ cung Huynh Đệ, cát hung phần nhiều ứng nghiệm lúc đến các lưu niên "Vũ Khúc, Thiên tướng", Phá Quân, "Liêm Trinh, Thiên Phủ" thủ cung Huynh Đệ.

Phá Quân ở hai cung Thìn hoặc Tuất, thủ cung Huynh Đệ, cát hung phần nhiều ứng nghiệm lúc đến các lưu niên "Tử Vi, Thiên Tướng" Phá Quân, Thất Sát thủ cung Huynh Đệ.




Read more…

Sao Phá quân ở cung Mệnh

tháng 9 05, 2018 |
Tình huống sao Phá Quân ở cung Mệnh, được chia làm các tình huống sau:
       
      1. Phá quân độc tọa ở cung Tý hoặc cung Ngọ 
      
Khi sao Phá quân thủ mệnh độc tọa ở Tý hoặc Ngọ, đối cung Thiên di ắt có tổ hợp "Liêm Trinh,Thiên tướng" xung chiếu. Sao Liêm Trinh  có lợi về làm công chức, hành chính, chính trị, sao Thiên tướng thì chủ về vất vả thay cho người khác (do đặc tính nghĩa hiệp ưa giúp đỡ người khác nên sẽ vì người khác mà vất vả) , cho nên khi hai sao này đồng cung, xung chiếu Phá quân, càng khiến cho Phá quân thủ mệnh thành người thủ đoạn, nhưng lại là mưu tính cho người, mà không mưu tính cho bản thân.
      
      Cho nên Phá quân an mệnh ở Tý hoặc Ngọ, đời người tuy ít biến động thay đổi, hơn nữa sẽ không chủ động thay đổi, nhưng một khi bị hoàn cảnh gây ảnh hưởng, không thay đổi thì không được, thì sự biến động thay đổi của người mệnh Phá quân sẽ rất kịch liệt, khiến cho người khác kinh ngạc. Do đó có thể nói sự thay đổi của sao Phá Quân ở cung Tý hay cung Ngọ, phần lớn là do tác động của hoàn cảnh. Cũng có thể hiểu rằng, với kết cấu tinh hệ dạng này, Phá Quân ở vai "Quân" sẽ phải đối ứng với tác động bên ngoài của "Tướng". Đồng thời, vai trò của "Quân", với ý nghĩa tư lợi nhiều hơn công lợi, phải đối lại với vai trò hành chính công của hệ Liêm Trinh, Thiên Tướng. Do đó, thường bị chi phối bởi hoàn cảnh của việc công, mà đưa đến thay đổi biến hóa.
      
      Nếu không có các sao Sát Kị hội chiếu, Phá quân Hóa Lộc hay Hóa Quyền ở cung mệnh, hoặc có Lộc tồn đồng độ (Lộc tồn ở cung Phúc đức đồng độ với Tử Phủ cũng được), người này sẽ rất độ lượng, khí phách anh hùng, rất thích hợp theo võ nghiệp. Ngày nay, ngoại trừ gia nhập quân đội hay cảnh sát, còn có thể phục vụ trong ngành công thương nghiệp, và nên làm công việc mang tính khai sáng.
      
     Sao Phá quân không ưa Văn xương, Văn khúc, chỉ ưa gặp Thiên khôi Thiên việt, và rất ưa Tả phụ Hữu bật đồng độ hay hội chiếu, chủ về được bạn bè giúp đỡ, ủng hộ. Nếu gặp Văn xương Văn khúc mà không gặp sao Lộc, trái lại sẽ chủ về tính không tốt không xấu, nhưng tinh thần hay suy diễn theo sự không tưởng rất nhiều, và thiếu hành động thực tế. Nên lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu, phải xem trọng bản thân, một khi có ý nghĩ trong đầu thì lập tức lên kế hoạch thực hiện. Ảnh hưởng của Xương Khúc, thường là do theo đuổi học hành quá lâu mà sa đà vào lý thuyết, thường hướng Phá Quân vào mô típ của sách vở, hoặc lối mòn được đào tạo, mà kìm hãm tính ham mê khai sáng của Phá Quân. Do đó, thường mâu thuẫn trong nội tâm đưa đến thiếu quyết đoán, thiếu đi tính liều lĩnh cần thiết, cho nên sự nghiệp kho hiển đạt, hoặc thanh danh sự nghiệp đến muộn, vị trí vai trò không cao trong tổ chức. Cũng có thể, vì Phá Quân vốn hành Thủy, nay găp thêm Văn Xương là Kim sinh Thủy, Văn Khúc hành Thủy khiến môi trường đa Thủy mà Phá Quân trở nên lãng đãng vô định kiến, lúng túng khi giải quyết việc.
Có nhiều nhà lý số cho rằng, Phá Quân tính Hao và liều, không nên thêm Phụ Tá Tả Phù Hữu Bật vì sẽ khiến Phá Quân dao động khó quyết đoán, không phát huy được tính độc lập hành động của mình. Đây cũng là quan điểm nên tham khảo.
      
Phá Quân không ưa gặp Sát tinh đến hội hợp hoặc đồng độ, vì sẽ khiến cho người Phá quân thủ mệnh cảm thấy rất cô tịch, nếu lại gặp Thiên hư, thì càng chủ về tinh thần trống rỗng, nếu lại gặp Thiên nguyệt, ắt sẽ mắc bệnh mãn tính.
      
      Nữ mệnh Phá quân ở Tý hoặc Ngọ, rất ngại gặp Địa không, Địa kiếp, Cô thần, Quả tú, chủ về nửa cuộc đời cô tịch, tinh thần nhiều đau khổ. Nếu cung Phu có Vũ khúc Hóa Kị gặp Thiên hình, thì rất có thể không có chồng (hoặc không có vợ). Đây là một điển hình của tuổi Nhâm, Phá Quân có Kình Đà hội chiếu.

     2. Tổ hợp "Phá quân,Tử vi" thủ mệnh ở cung Sửu hoặc cung Mùi 
      
      Sao Phá quân thủ mệnh ở Sửu hoặc Mùi, luôn luôn có Tử vi đồng độ. Đây là kết cấu tinh hệ rất có lực khai sáng. Phá quân vốn là chiến tướng tiên phong, được Tử vi cầm cương điều khiển, lực phá hoại của Phá quân nhờ vậy mà được giảm thiểu, sức sáng tạo trái lại sẽ tăng. Tuy đời người không tránh được vất vả, nhưng nhờ có tài lãnh đạo, có tính quyết đoán, nên cũng chủ về trải qua vất vả mà có thành tựu. 
      
      Nhưng lúc Phá quân Hóa Quyền (Tuổi Giáp) sẽ làm tăng tính chất biến động của Phá quân, vì vậy mà đời người càng thêm thay đổi. Nếu có Tả phụ Hữu bật hội hợp, có thể giảm thiểu vất vả; nếu gặp tứ Sát, thì chỉ thích hợp làm việc trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, và cần phải chú ý tính chất sáng tạo cái mới trong kinh doanh.
      
      Nếu Phá quân Hóa Lộc (Tuổi Quý) , đồng thời với sự khai sáng là cơ hội kiếm tiền, khiến cho sinh hoạt vật chất được sung túc, để bù đắp những vất vả đã trải qua. Nhưng như vậy, đồng thời tình cảm cũng gặp nhiều tình huống rắc rối khó xử, hơn nữa, sẽ khiến cho mệnh tạo thiên về hưởng thụ nhục dục. Bởi vì lúc này sẽ gặp Liêm trinh và Tham lang đồng độ ở Tị (hoặc ở Hợi), do hội với Phá quân Hóa Lộc mà phát huy tác dụng. Phá Quân Hóa thành sao Lộc tuổi Quý, ắt Tham Lang hóa thành sao Kỵ ở cung Tị (hoặc cung Hợi) trong tam hợp (cung Quan Lộc). Do đó tính chất Tử Phá Hóa Lộc tại cung Mùi ảnh hưởng nặng bởi nhị ám Đà Kỵ, còn ở cung Sửu ảnh hưởng của Kình Kỵ. Đời người do đó gặp phải khá nhiều ngộ cảnh bất lợi mới có thể thành công.
      
      Bất kể Phá quân Hóa Quyền hay Hóa Lộc, cũng chủ về khiến cho mệnh tạo trở thành phú quý, nhưng nếu đồng thời hội hợp với các sao Sát Hình Kị, thì tuy giầu có sung túc, nhưng lại dễ chuốc điều tiếng thị phi. Gặp Kình dương, Thiên Hình, Hóa Kị, còn dễ vướng vào tranh chấp kiện tụng, thích hợp theo binh nghiệp hoặc ngành pháp luật.
      
      Tinh hệ "Tử vi, Phá quân" chủ về biến động, bởi vậy trong kinh doanh làm ăn, cần phải chú ý khi cơ hội đến bất ngờ, hơn nữa, có khả năng sẽ đồng thời kinh doanh hai ba lãnh vực có liên quan với nhau, hoặc cùng một thời điểm phải giải quyết hai ba việc. Nếu là nhân viên làm thuê, thì chủ về kiêm ngành, kiêm chức, hoặc làm tăng ca, nhưng nhất định sẽ một mình đảm trách công việc.
      
      "Tử vi, Phá quân" đóng ở Mệnh cung, là người thẳng thắn, nhưng nếu gặp Hoa cái, thì thích hợp nghiên cứu tôn giáo hoặc triết học. Đây thực chất là trường hợp Tử Phá đắc Tứ Linh, thường giàu tính lý luận, triết lý, có giác quan tâm linh nhạy bén, ưa khám phá những bí mật tâm linh, bí mật cuộc đời, do đó thường có xu hướng nghiên cứu về tôn giáo hay triết học.
      
      Có điều, do mệnh tạo hay lo toan nghĩ ngợi, nhiều biến động, lại xét thấy Thiên phủ ở cung Phúc đức chủ về lo toan chu đáo, nên khi gặp các sao Sát, sao Không, sẽ biểu hiện tính tự tư ích kỷ. Cổ nhân nói: "Tử vi Phá quân, làm tôi thần bất trung, làm con bất hiếu" (Tử vi Phá quân, vi thần bất trung, vi tử bất hiếu), còn nói: "Tử vi Phá quân mà không có Tả Hữu đồng cung, là phường quan lại hung ác" (Tử Phá đồng cung vô Tả Hữu, vô cát diệu, hung ác tư lại chi đồ), tức là đã chỉ ra bản tính tự tư ích kỷ và khuynh hướng hay lo toan nghĩ ngợi của mệnh tạo. Nhưng chỉ cần có Cát tinh hội hợp, thì những tính cách không lành này sẽ giảm nhẹ, thậm chí tiêu trừ.
      
      Đại hạn hoặc Lưu niên mà gặp "Tử vi,Phá quân" đồng độ, chủ về "khứ cựu canh tân" (bỏ cũ để đổi mới). Được Cát tinh hội hợp, đương nhiên biến động sẽ cát lợi. Nếu gặp Sát tinh, thì nên suy nghĩ kỹ, không được vội vã thay đổi. Nếu Sát tinh và Cát tinh đều có, thì phải xem đến vận hạn sau có cát hay không để quyết định làm hay dừng. Đây là một cách xem vận rất hay của cổ nhân. Khi trường hợp cát hung tương bán, thì để ý xem vận kế tiếp để định hướng. Nếu cát lợi, nghĩa là có thể quyết định làm, dù khó khăn sau đó vẫn cát. Ngược lại nếu vận kế tiếp là hung, thì phần nhiều thất bại, do đó không nên quyết định làm.

     3. Sao Phá quân thủ mệnh ở cung Dần hoặc cung Thân 
      
      Sao Phá quân độc tọa ở Dần hoặc Thân, cung Thiên di có hai sao Vũ khúc và Thiên tướng đồng độ. Vũ khúc là sao có tính chất cô độc và hình khắc, vì vậy nên chú trọng tình hình cát hung của cung Phụ mẫu; nếu cung Phụ mẫu có các sao Sát Kị trùng trùng, hoặc cung mệnh có "Lộc Mã giao trì" mà gặp Sát tinh, đều chủ về từ nhỏ đã rời xa gia đình, là mệnh cách lưu lạc chân trời góc bể. 
      
      Có điều, bị Thiên tướng gây ảnh hưởng, nên còn chủ về là người "hành hiệp trượng nghĩa", gặp chuyện bất bình thì lập tức ra tay; cho nên tuy tính tình cứng rắn, nhưng cũng được người đời ủng hộ và yêu mến. Hơn nữa, cần phải có một nghề tùy thân, sau đó có thể lưu lạc tha hương.
      
      Nếu gặp tam cát hóa Lộc Quyền Khoa và Lộc tồn hội chiếu, lại có Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, thì tuy hiếu động, trôi nổi, bất ổn, nhưng vẫn chủ về sự nghiệp có thành tích, có thể rời xa quê hương để phát triển. Nếu vẫn ở nơi sinh ra, tính chất hời hợt, hiếu động sẽ biến thành không chuyên một nghề nào, sự nghiệp và chức vị luôn thay đổi, hoặc hoàn cảnh công tác cũng luôn bị thay đổi. Có điều, đối với trường hợp có Lộc Tồn hội chiếu (Tuổi Giáp, Canh, Quý), tuy có thể kiềm chế được tính điên của Phá Quân, nhưng cũng khiến Phá Quân trở nên bảo thủ và chần chừ, thường rơi vào trường hợp lưỡng lự, đắn đo, lòng muốn quyết mà vấn vương hoàn cảnh (đối với Phá Quân cư Dần tuổi Giáp, Phá Quân cư Thân tuổi Canh). Đối với các trường hợp Phá Quân cư Dần tuổi Canh, ắt Mệnh Cung ngộ sao Phi Liêm gây biến động nhanh chóng bất ngờ, thường chủ về hao tán ngoài ý muốn, hoặc đổ vỡ hôn nhân, công việc ở những hoàn cảnh không tự chủ được. Đối với tuổi Quý mệnh tại Thân, Phá Quân Hóa Lộc ngộ Tướng Quân rất dũng mãnh uy nghi, rất tốt cho tài lộc, tính khai sáng và uy tín tạo ra Lộc, nhưng vị trí Tài cung ngộ Bệnh Phù, Quan Cung Tham Lang hóa ra sao Kỵ, cho nên tuy đắc cách song Lộc Tướng Quân, nhưng vận hạn đi thuận gặp Tham hóa Kỵ, đi thuận gặp Sát Bệnh Phù, thường gặp ngộ cảnh không hay.
      
      Sao Phá quân an mệnh ở hai nơi này, nếu gặp Văn xương, Văn khúc, là văn sỹ nghèo nàn, thất chí; nếu gặp Sát tinh trùng trùng hội chiếu, thì một đời cô độc phiêu bạt. Gặp Hóa Kị, Kình dương, Đà la tụ hội ở cung Mệnh thì chủ về tàn tật, nhưng tính hiếu chiến hung dữ vẫn không thay đổi.
      
      Nữ mệnh dễ trụy lạc phong trần, nhất là khi mệnh lập ở tại Thân thì càng nghiệm, phần nhiều còn có quan hệ hôn nhân không chính thức. 

    4. Tinh hệ "Phá quân, Liêm Trinh" thủ mệnh ở cung Mão hoặc cung Dậu.
      
      Phá quân và Liêm Trinh đồng độ ở Mão hoặc Dậu, tam phương tứ chính có các sao mạnh mẽ hội hợp, vì vậy chủ về không giữ tổ nghiệp, cũng không được cha mẹ che chở, tay trắng làm nên, tự lập.
      
      Về phương diện tính cách, nói mặt tốt thì cương nghị, kiên nhẫn, có lực xung kích, suy nghĩ tới công ích và có lòng chính nghĩa, còn có hoài bão lý tưởng, là nhân tài tốt để sáng lập sự nghiệp; nhưng nói mặt xấu, thì e rằng cuộc đời không được an định, không cách nào sống cho được yên ổn, một đời vì khai sáng sự nghiệp mà lao tâm lao lực.
      
      Do tính chất của các sao chủ về biến động thay đổi, vì vậy không nên kinh doanh làm ăn, nếu không dễ đứng núi này trông núi nọ, không giữ một nghề, mà còn vì lý tưởng quá cao, dẫn đến đầu cơ mạo hiểm nên thất bại. Tuy là nhân viên làm thuê, nhưng thường thường lại được ông chủ cho đảm nhiệm công tác có tính khai sáng. Nếu không có công việc mang tính khai sáng, thì cũng dễ được chỉ định làm công việc bộ môn, chuyên môn, cũng chủ về kiêm nhiệm nhiều chức vị khác nhau, cho nên rất vất vả.
      
      Nếu trong cung Mệnh có đủ các sao đào hoa tụ tập, thì dễ thành chủ quản một số người khác giới, hoặc tính chất của nghề nghiệp có liên quan đến người khác giới.
      
      Nhưng bất kể thế nào, phàm "Phá quân, Liêm Trinh" tọa thủ cung Mệnh, lúc còn bé ắt bị nạn tai bệnh tật; nếu cung Phụ mẫu gặp Sát tinh, thì lúc bé không có duyên với cha mẹ, đến khi bước chân ra đời làm việc, phải trải qua nhiều biến động thay đổi, gian nan nguy hiểm, rồi mới có thể thành tựu. Vì vậy, nói về phương diện hưởng thụ, tinh hệ "Phá quân, Liêm Trinh" không chủ về phúc trạch. Đây là điều không may mắn thuộc về tiên thiên của mệnh tạo. 
      
      "Phá quân, Liêm Trinh" tọa thủ cung mệnh rất ưa Liêm trinh Hóa Lộc, hoặc có Lộc tồn hội hợp, chủ về vất vả nhưng vẫn phú quý. Gặp Văn xương Văn khúc thường biểu hiện sở thích nghiệp dư thanh nhã, những sở thích vui thú này có tác dụng giảm thiểu những trắc trở, gập ghềnh trên đường đời, cân bằng cuộc sống cho mệnh tạo. Đây là ý vị phát sinh do Liêm Trinh ngộ Văn Xương Văn Khúc biến hóa thành ý nghĩa nghệ thuật, cũng khiến tinh hệ này nhuyễn hóa chung thành khí chất tao nhã.
      
      Nếu có tứ Sát hội chiếu, có thể làm nhân viên hành chính. Cổ nhân nói: "Liêm trinh Phá quân gặp tứ sát, chủ về nhờ tay nghề khéo mà yên thân". Nhưng nếu Sát tinh quá nhiều lại lạc hãm, thì chủ về một đời ắt nhiều thị phi, tranh chấp, còn dễ bị thần kinh suy nhược, hay bệnh tim mạch, dễ bị chứng da mẫn cảm, dị ứng; nếu có các sao Sát Kị Hình cùng chiếu, thì có thể thất bại do phạm pháp.
      
      Người sinh năm Bính, Liêm trinh Hóa Kị mà còn gặp Sát tinh, nếu cung mệnh có Thiên hình đồng độ, nên đề phòng tai nạn giao thông. Tinh hệ có kết cấu Liêm trinh Hóa Kị gặp Phá quân và Thiên hình, dù không ở cung mệnh, mà ở cung Thiên di, cũng chủ về dễ xảy ra tai nạn giao thông. 

      Nếu gặp Kình dương ở cung đối diện, tức Thiên di gặp Kình dương (hoặc tinh hệ này ở cung Thiên di, gặp Kình dương ở bản cung hoặc bản mệnh), thì họa càng nặng, cũng chủ về gông cùm, hay thú dữ cắn. Tính chất này càng chính xác khi tinh hệ "Phá quân, Liêm Trinh" ở tại Dậu, không thể không đề phòng. Phép "xu cát tị hung" là nên gia nhập quân đội hay cảnh sát, hoặc làm công tác nghiên cứu, hoặc công việc xét nghiệm máu. Tại cung Mão, phương vị của cung Chấn, Chấn vi Lôi, thường xảy ra rất bất ngờ khó dự đoán, biến động của "Phá quân, Liêm Trinh" tại Mão rất khó lường, khi xảy ra thường rất dữ dội.
      
      "Phá quân, Liêm Trinh" ở tại Dậu, có Hỏa tinh đồng độ, do Hỏa tinh lạc hãm, nên biến thành tinh hệ có kết cấu khác. Tính cách người này thiếu tình thân, hơn nữa còn mang tính phản bội. Nếu Liêm trinh Hóa Kị, gặp thêm Thiên hình, thì dễ vì sự nghiệp thất bại mà nảy sinh ý nghĩ không còn muốn sống.  Phá Quân, Liêm Trinh, Hỏa Tinh cư hãm địa ải tử đầu hà"
      
      Nữ mệnh "Phá quân, Liêm Trinh", phần nhiều nếu chồng có tình nhân bên ngoài, thì trái lại, có thể giữ chồng đến bạc đầu. Vì vậy, nên lấy sự nghiệp làm trọng, nếu không, sẽ xảy ra sóng gió trắc trở một cách vô ích; nếu ở cung Mệnh hoặc cung Phúc đức có sao đào hoa tụ tập, thì bản thân người phụ nữ này sau kết hôn cũng dễ trở thành người ngoại tình.

      5. Sao Phá quân thủ mệnh ở cung Thìn hoặc cung Tuất 
      
     Sao Phá quân độc tọa ở Thìn hoặc Tuất, cung Thiên di có "Tử vi, Thiên tướng". Sao Phá quân một mặt bị kềm chế ở Thiên la, Địa võng, một mặt lại bị Tử vi kềm chế; thêm vào đó Phá quân có bản chất "tướng ở ngoài mặt trận, không thụ mệnh vua", sẽ càng phản kháng sự kềm chế của Tử vi ở cung Thiên di, cho nên kết cấu tinh hệ này có nhiều tính cách mâu thuẫn.
      
      "Mâu thuẫn" ở đây có biểu hiện cụ thể ở nhiều phương diện. Chí dại tài sơ là một, lý tưởng cao mà không có hành động thực tế là hai. Thích đầu cơ mạo hiểm mà tính toán không đủ là ba. Lúc có Xương Khúc hội chiếu, lại ưa thích văn hóa văn nghệ, trong khi nghề nghiệp và chức vị chẳng có liên quan gì đến văn hóa văn nghệ là bốn. Có một nghề sở trường nhưng lại không biểu hiện, đến lúc cần biểu hiện lại không chịu biểu hiện là năm.
      
      Những mâu thuẫn này, chỉ có gặp Hóa Lộc mới có thể giải cứu, làm cho điều hòa, kế đó là được Hóa Lộc ở cung Phúc đức, kế đến nữa là cung Phúc đức hội hợp với Hóa Lộc. Trường hợp sao Hóa ở cung Phúc đức mà gặp Lộc tồn, chủ về người keo kiệt bủn xỉn, không phù hợp với tính cách của Phá quân. Nếu không có những điều như đã luận thuật ở trên, thì mệnh tạo ắt phải gặp nạn tai, hoặc mắc bệnh mãn tính, như bệnh ở não bộ, bệnh về tim mạch, bệnh về thận hoặc đường tiêu hóa. Nếu Vũ khúc Hóa Kị hội hợp với cung Phu thê, lại gặp thêm các sao Hung như Thiên nguyệt, Âm sát, Thiên hình, thì chủ về bị khiếm khuyết năng lực tính dục, hoặc bản thân bị lãnh cảm, hoặc có khuynh hướng đồng tính luyến ái.

    6.  Tinh hệ "Phá quân,Vũ khúc" thủ mệnh ở cung Tị hoặc cung Hợi.
      
      Phá quân và Vũ khúc đồng độ ở Tị hoặc Hợi, cổ nhân đối với kết cấu này chẳng đề cao, mà còn có thuyết "Vũ khúc Phá quân khó quý hiển", về quan điểm này có quan hệ tới thuyết "Vũ khúc ở cung nhàn phần nhiều làm nghề thủ công".
      
      Phàm người Phá quân - Vũ khúc đóng ở cung mệnh, phần nhiều ưa nghiên cứu tìm hiểu về kỹ năng chuyên môn, dù hội hợp với Lộc tồn, Hóa Lộc, Văn xương, Văn khúc, cũng ít lưu ý đến tri thức chuyên môn đối với lĩnh vực tài chính kinh tế. Quyết không chọn theo con đường lớn, mà chỉ thích làm những công việc thông thường mang tính đơn giản. Nếu cung mệnh có Sát tinh đồng độ, thì nên tập trung vào một nghề cần tay nghề khéo léo để an thân.
      
      Trong xã hội cổ đại, nhất là trong thời đại khoa cử, người có tri thức chuyên môn và tay nghề khéo, thông thường địa vị xã hội không cao. Vì vậy có thuyết "khó quý hiển". Ngày nay, nếu cung mệnh hội hợp với các sao phụ, tá, hoặc gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì có khả năng nhân tài chuyên nghiệp đạt tới đỉnh cao, như kỹ sư, giáo sư khoa kỹ thuật, giáo sư tài chính kinh tế, chủ quản bộ môn tài chính kinh tế ... Dù gặp Sát tinh, cũng có thể dựa vào nghề nghiệp mà mưu sinh.
      
      Thông thường, người "Phá quân, Vũ khúc" thủ mệnh gặp khó khăn đối với kinh doanh làm ăn, nhưng nếu "Tử vi, Tham Lang" của cung Sự nghiệp gặp Lộc tồn, Thiên mã, hoặc Hỏa tinh, Linh tinh, thì dễ có cơ hội phát đột ngột. Nữ mệnh "Phá quân, Vũ khúc", chủ về có khí khái đàn ông, nếu gặp các sao Cát lại gặp thêm Thiên Hình, ắt là bậc nữ sỹ được xã hội biết tên, nhưng bất lợi về hôn nhân. Nữ mệnh, trong hạn Lưu niên "Phá quân, Vũ khúc", chủ về có cơ hội thay đổi. Thay đổi tốt hay không, cần phải xem gặp các sao Cát Hung thế nào mà định. Rất sợ Hóa Kị, có nguy cơ bị đình chức vụ, hoặc thất nghiệp, gặp Kình dương, Thiên Hình thì có thể phải phẫu thuật.
      
      Nữ mệnh Phá quân, chỉ có an mệnh ở hai nơi Tý hoặc Ngọ là tốt nhất, tuy nên kết hôn muộn, nhưng nếu không gặp Sát tinh hay ác tinh, thì vẫn chủ về giai lão bạc đầu, chồng con song mỹ; khi ở Dần hoặc Thân nếu không phải nhị phòng hay kế thất, phần nhiều chủ về chia ly hay hình khắc, hơn nữa còn sớm rời xa cha mẹ, thậm chí làm con nuôi người họ khác, hoặc rơi vào chốn phong trần mà chẳng có gia đình, không nơi nương tựa. Nhưng cũng có nhiều trường hợp suốt đời không lấy chồng, các tình hình như vậy, cần phải xem xét kỹ tinh hệ của các cung mà định. Ở Thìn hoặc Tuất, thì dễ có khí chất văn nghệ, dẫn đến tính cách không hợp với chồng.
      
      Cung Mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Phá quân, chủ về có cơ hội bỏ cũ đổi mới, đổi mới có tốt đẹp hay không phải xem các sao ở đại hạn, hoặc lấy lưu niên vài năm sau để định. Nếu Phá quân Hóa Lộc, thì gặp cơ hội mới từ nghề nghiệp cũ. Nếu gặp Vũ khúc Hóa Kị và Sát tinh đến hội hợp, thì chủ về phá tán thất bại, thậm chí sự nghiệp đình đốn.
      
      Chỉ khi Phá quân độc tọa thủ mệnh ở Thìn hoặc Tuất của Lưu niên, nếu gặp Kình dương, thì năm đó chủ về sinh con, nếu không sẽ là tai nạn chảy máu, hoặc có tang. 
Read more…

Sao Phá quân - Khâm Thiên Giám

tháng 9 05, 2018 |

         Phá Quân là sao thứ bảy của Bắc Đẩu, ngũ hành thuộc âm thủy, hóa khí là "hao". 
      
      Phá Quân miếu ở ba cung Tý, Ngọ, Mùi, hãm ở ba cung Dần, Thân, Dậu.
      
      Trong Đẩu Số, sao Phá quân là sao tiên phong, gặp núi thì mở đường, gặp nước thì làm cầu, hơn nữa còn xung phong phá trận, cho nên tính chất cơ bản của nó là có thể "công" mà không thể "thủ". Tính chất này khiến cho người có Phá quân thủ mệnh dễ có tính khí nóng nảy, bộp chộp, nhưng lại chính trực, cứng rắn; ở trong hoàn cảnh khốn khó sẽ biểu hiện tài năng lãnh đạo và phách lực khai sáng cục diện mới.
      
      Do tính cách sở trường về khai sáng mà không giỏi thủ thành, nếu cung Phúc đức gặp Tử vi, Thiên phủ đồng cung, sẽ thành người có năng lực, chịu khó và tính chủ quan rất mạnh, không thể nhẫn nại một khi đã thành cục diện phát triển, thậm chí lúc sự nghiệp đã ổn định, có khi còn muốn thay đổi cục diện mới.
      
      Sao Phá quân tranh thành đoạt trại, phá hoại trước rồi kiến thiết sau, cho nên bản thân phải chịu nguy nan cũng nhiều, dễ biến thành vượt quá tầm kiểm soát, rơi vào tình cảnh nguy khốn, mà không thể tự đứng lên được. Khi xử sự, thường dễ biến trở ngại nhỏ thành trắc trở lớn.
      
      Cho nên, sao Phá quân rất ưa gặp sao Lộc, tiền tài là nguồn viện trợ phía sau không ngừng bổ xung, gọi là "có gốc rễ". Sao Phá quân có Lộc tồn hoặc Hóa Lộc đồng cung là tốt nhất, hội hợp với chính diệu Hóa Lộc khác là kế đó, trường hợp hội hợp với Lộc tồn là kế đó nữa.
      
      Có Hóa Quyền, Thiên khôi, Thiên việt, Tả phụ, Hữu bật hội chiếu hoặc đồng độ với Phá quân, có thể làm tăng khí thế sáng lập sự nghiệp. Nếu gặp Địa không, Địa kiếp thì một đời nhiều trở ngại. Gặp tứ sát Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, phàm mỗi khi có biến động đều gặp bất lợi trước. Gặp Thiên khốc, Thiên hư chủ về tâm hồn trống rỗng.
      
      Do Phá quân có hàm nghĩa "phá hoại trước kiến thiến sau", nên cuộc đời và sự nghiệp phải gặp biến động lớn. Nhưng hễ có biến động thì đều có tính chất "bỏ cũ mà canh tân", cho nên trong kinh doanh làm ăn, phần nhiều đều từ sự nghiệp cũ mà lập nên cục diện mới, phần lớn cũng chủ về có hai sự nghiệp cùng mọt lúc; làm công ăn lương thì cũng chủ về kiêm thêm chức vụ khác, hoặc thường gánh vác công việc quá mức, quá với sức bản thân. "Người giỏi làm nhiều" chính là hình ảnh của sao Phá quân đóng ở cung mệnh.
      
      Nữ mệnh Phá quân, thông thường đều nên kết hôn muộn; gặp Kình dương, Đà la thì càng như vậy. Nếu Phá quân Hóa Lộc, có khuynh hướng thích tu sửa sắc đẹp; lúc này cần lưu ý xem Tiểu hạn có tương hội sao Hình, Sát, Kị hay không, nếu đúng thì phải cẩn thận kẻo để lại dấu vết.

      
Read more…

Sao Phá quân - Tử Vi Đẩu Số tam hợp phái

tháng 9 05, 2018 |
TỔNG LUẬN

      Phá quân là sao thứ bảy của Bắc Đẩu, thuộc dương Thủy. Trong Đẩu Số, sao Phá quân là “tướng tiên phong”, cho nên chủ về “xung phong”, mà không chủ về “lui lại phòng thủ”. Phàm người có Phá quân thủ mệnh, chỉ có thể “công” mà không thể “thủ”, hơn nữa, sau khi “công” thành trì xong cũng sẽ bàn giao cho người khác cố thủ, bản thân lại phải đi xung phong ở trận chiến khác.

      Biểu hiện cụ thể của người có Phá quân thủ mệnh, đó là không lúc nào được yên thân, nói về góc độ công việc, ví như người chủ giao nhiệm vụ khó khăn cho anh ta, đợi giải quyết xong khó khăn, người chủ lại điều phái đi làm việc khác, cuộc đời dường như không bao giờ ngồi không mà hưởng, thậm chí còn không được hưởng thành quả do bản thân nỗ lực mà có.

      Khi luận đoán tình huống cát hung của Phá quân, cần phải xem xét Phá quân có tính “an định” hay không, và năng lực khai sáng của Phá quân là lớn hay là nhỏ. Điều đáng chú ý ở đây, đó là bản thân Phá quân có thể sáng lập được sự nghiệp hay không, hay chỉ hợp với tính “bận rộn vất vả vì người khác”.

      Phá quân rất ưa gặp Lộc tồn và Hóa Lộc, ưa nhất là bản thân Phá quân được Hóa Lộc, khi gặp được sao Lộc, chủ về khai sáng có thu hoạch, nếu không gặp được sao Lộc, cuộc đời sẽ chủ về “bận rộn vất vả vì người”, chỉ mất công vô ích, còn giá trị của bản thân được hưởng rất ít.

      Khi Phá quân Hóa Lộc, mệnh cách sẽ kiêm nhiệm nhiều nghề, nhiều việc, nhiều chức vụ, hoặc gánh vác chức trách một cách quá mức.

      Khi Phá quân Hóa Quyền, so với Phá quân Hóa Lộc, thì mức độ vất vả tăng hơn nhiều, nhưng thanh thế thêm phần hiển hách.

      Nếu Phá quân không gặp sao Lộc, lại không gặp Hóa Quyền, thì cần phải gặp Tả phụ Hữu bật, mới chủ về có trợ lực, giảm thiểu được vất vả và lo lắng.

      Nếu không gặp Cát hóa, lại không gặp các sao Phụ Tá cát, trái lại, gặp các sao Sát Kị cùng đến xâm phạm, thì cuộc đời mệnh tạo chỉ có thể làm công việc thuộc mẫu người chuyên phá hoại, mà thiếu tính khai sáng.
      Cổ nhân nói “Phá quân gặp Hỏa tinh Linh tinh, chủ về bôn ba vất vả, phạm pháp kiện tụng” (Phá quân Hỏa Linh, bôn ba lao lực, quan phi tranh môn), còn nói “Phá quân có Kình dương Đà la đồng cung, chủ về bị tàn tật” (Phá quân Dương Đà đồng cung, chủ hữu tàn tật), lại còn nói “Sao Hình và sao Kị đồng cung, chủ về bị tàn tật” (Hình Kị đồng cung, chủ hữu tàn tật), là nói lý lẽ này.
      Thâm chí ở cung Sự nghiệp cũng không nên có kết cấu như vậy. Cổ nhân nói “Phá quân gặp Kình dương Đà la ở cung Quan lộc, chủ về đi xứ khác kiếm ăn” (Phá quân Dương Đà quan lộc vị, đáo xứ cầu khất).
      Trong số các Cát tinh, Phá quân không ưa Văn xương, Văn khúc, vì khí chất của chúng khác nhau. Cổ nhân nói “Phá quân có Văn xương Văn khúc đồng cung, chủ về một đời là bần sĩ” (Phá quân Xương Khúc đồng cung, nhất sinh bần sĩ). Chỉ khi Phá quân độc tọa ở Dần, có Cát tinh, mới ưa Văn xương, Văn khúc, vì cổ nhân nói “Phá quân ở Dần có Văn xương Văn khúc đồng cung, chủ về quý” (Phá quân Xương Khúc đồng cung vu dần chủ quý).
      Liên quan đến Thiên mã, có một số tổ hợp chủ về không ổn định. Bởi lực phá hoại của Phá quân là do khí chất không ổn định, gặp thêm Thiên mã ắt ý chí bất định, rời xa người thân, lưu lạc phóng đãng, không làm nghề chính đáng. Nữ mệnh Phá quân nếu gặp thêm đào hoa, càng chủ về ý chí bạc nhược, thấy mới là thay đổi. Khẩu quyết của phái Trung Châu là “Phá quân không có cát hóa, Lộc tồn và Thiên mã hội hợp với Sát tinh, nam nữ mệnh đều chủ về phóng đãng. Nữ mệnh đẹp thì cũng như Hồng Phất” (Phá quân vô cát hóa, Lộc Mã hội sát, nam nữ lãng đãng. Nữ mệnh giai giả diệc như Hồng Phát), theo sách sử, Hồng Phất là tỳ của Dương Nghiệp, người đời Đường, đã lén bỏ theo Lý Tịnh.
      Sát Phá Tham đều chủ về biến hóa thay đổi, nhưng tính chất hoàn toàn khác nhau.
      Biến hóa thay đổi của Tham lang thiên về nhu hòa, có ý vị tư lợi, phấn son, trang điểm, do đó chủ về ngầm thay đổi, không có hành vi bộc lộ kinh thiên động địa, thậm chí cũng có ý vị tu bổ, bảo trì, sửa chữa.
      Biến hóa thay đổi của Thất sát có thể đến đột ngột, khiến người ta không liệu tính được, hơn nữa, sự biến động thay đổi của Thất sát chưa chắc có liên quan đến chuyện cũ, nghề cũ, có thể là một hành động hoàn toàn mới, như đồi việc làm, đổi nghề.
      Biến hóa thay đổi của Phá quân, thì phải “từ chuyện cũ mà sáng lập ra cái mới”, từ việc nhỏ đến việc lớn, bất kể cải biến ra thứ to tát gì, cũng đều có liên quan đến chuyện cũ. Do Phá quân có ý vị “phá hoại trước rồi mới kiến thiết sau”, do đó nguyên nhân sẽ vì “chuyện cũ” mà phát sinh khó khăn. Sau khi giải quyết xong những khó khăn này lại khai sáng cục diện mới. Người có Phá quân thủ mệnh đặc biệt vất vả là vì lý do này.
      Sau khi Thất sát và Tham lang biến hóa thay đổi, có thể an hưởng thành quả của mình, còn Phá quân thì không, lại chủ về “công” mà không chủ về “thủ”, nếu Phá quân ở tình cảnh bị buộc phải “thủ”, trái lại, sẽ sầu khổ, nếu ở cung Phúc đức thì càng như vậy.
      Phá quân chỉ có một tổ hợp tinh hệ cấu tạo, vừa có thể “công” vừa có thể “thủ”, gọi là cách “Anh tinh nhập miếu”.
      Kết cấu của cách này, là khi Phá quân độc tọa ở Tý hoặc ở Ngọ, cung đối diện là hệ “Liêm trinh Thiên tướng”, có Phá quân của bản cung Hóa Quyền, còn Liêm trinh ở cung đối diện Hóa Lộc đến chiếu, lại có các sao Phụ Tá đến hội hợp, không bị các sao Sát Kị hội chiếu. Đây là thượng cách của Phá quân, cổ nhân nói “Anh tinh nhập miếu, địa vị đến bậc tam công” (Anh tinh nhập miếu, vị chí tam công). Người sinh năm Bính, ngại vì Phá quân không có sao Lộc, hơn nữa còn có Liêm trinh Hóa Kị đối củng, chủ về cuộc đời nhiều lo toan, họa hoạn, thị phi.
      Phá quân có một hung cách, đó là khi Phá quân thủ mệnh, chỉ có một mình Văn khúc Hóa Kị đồng độ, không thấy Văn xương đến hội hợp, hoặc tuy có gặp Văn xương, nhưng đồng thời còn gặp các sao Sát Kị Hình, thì được gọi là “Phá quân ám tinh”, Văn khúc Hóa Kị trở thành “ám tinh” đối với Phá quân, ở đây không chỉ Cự môn.
      Cổ nhân nói “Phá quân và ám tinh cùng ở một chỗ trong nước, làm mộ phần” (Phá quân ám diệu cộng hương thủy trung, tác chủng), khiến cho người đời sau hiểu lầm là nói về tai nạn sông nước, thực ra không phải, mà ý cổ nhân nói “Phá quân gặp ám tinh ở ba cung Hợi Tý Sửu, giống như nhập vào mộ phần, chủ về khốn khó đình trệ, chứ chẳng phải nói tai nạn bất ngờ”, ba cung Hợi Tý Sửu thuộc chính phương của thủy, cho nên nói là “trong nước” (thủy trung) mà thôi. Còn việc hiểu lầm Văn khúc là “ám tinh” thành Cự môn “ám tinh”, đã xảy ra nhiều tranh cãi. Người biết thì xem đây là điều cực kỳ bí mật, không chịu nói cho ai biết, khiến cho người nghiên cứu Đẩu Số gặp nhiều khó khăn.
      Phá quân ở trong 12 cung luôn luôn đối nhau với Thiên tướng, ảnh hưởng của Phá quân tới Thiên tướng rất quan trọng, đối với Thiên tướng thuộc vào cách nào, thuộc về cách “Tài ấm giáp ấn” hay thuộc về cách “Hình kị giáp ấn”.
      Phá quân độc tọa ở Tý hoặc ở Ngọ, cung đối diện là hệ “Liêm trinh Thiên tướng” đồng độ; ở Mão hoặc ở Dậu có hệ “Liêm trinh Phá quân” đồng độ. Cho nên bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu là tổ hợp “Liêm trinh – Phá quân – Thiên tướng”
      Phá quân độc tọa ở Thìn hoặc ở Tuất, cung đối diện là hệ “Tử vi Thiên tướng” đồng độ; ở Sửu hoặc ở Mùi là hệ “Tử vi Phá quân” đồng độ. Cho nên bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi là tổ hợp “Tử vi – Phá quân – Thiên tướng”.
      Phá quân độc tọa ở Dần hoặc ở Thân, cung đối diện là hệ “Vũ khúc Thiên tướng” đồng độ; ở Tị hoặc ở Hợi là hệ “Vũ khúc Phá quân” đồng độ. Cho nên bốn cung Dần Thân Tị Hợi là tổ hợp “Vũ khúc – Phá quân – Thiên tướng”.
      Cấu tạo tinh hệ
      Phá quân quan hệ với các tinh hệ, bố trí của Phá quân trong tinh bàn có sáu loại như sau:
-      Ở Tý hoặc ở Ngọ, Phá quân độc tọa, cung đối diện là hệ “Liêm trinh Thiên tướng” đồng độ.
-      Ở Sửu hoặc ở Mùi, Phá quân đồng độ với Tử vi.
-      Ở Dần hoặc ở Thân, Phá quân độc tọa, cung đối diện là hệ “Vũ khúc Thiên tướng” đồng độ.
-      Ở Mão hoặc ở Dậu, Phá quân đồng độ với Liêm trinh.
-      Ở Thìn hoặc ở Tuất, Phá quân độc tọa, cung đối với là hệ “Tử vi Thiên tướng” đồng độ.
-      Ở Tị hoặc ở Hợi, Phá quân đồng độ với Vũ khúc.
      Phá quân cũng như Thất sát và Tham lang bài bố tại 12 cung trong tinh bàn, khi nhập các cung thuộc Dương (Tý Dần Thìn Ngọ Thân Tuất) thì Phá quân độc tọa, khi nhập các cung thuộc Âm (Sửu Mão Tị Mùi Dậu Hợi) thì Phá quân đồng độ với một tinh diệu khác. Đặc tính quan trọng này, là cơ sở để luận giải sự phối hợp giữa “mệnh nạp âm”, nguyên tắc “hợp Cục nhập Cách” và “tính lý” của các tổ hợp tinh hệ trong mệnh bàn.
      Từ các tổ hợp trên có thể biết, các sao có quan hệ mật thiết nhất đối với Phá quân, ngoài Thất sát và Tham lang tương hội ở tam phương, còn có bốn sao Tử vi, Vũ khúc, Liêm trinh, Thiên Tướng.
      Thông thường, Phá quân rất ưa gặp Tử vi, bởi vì Tử vi có thể khiến tính “phá hoại” của Phá quân, khi phá hoại thì đúng mục đích, đúng nơi đúng chỗ, khẳng định giá trị và hiệu quả, hơn nữa, còn khiến cho Phá quân giảm bớt lực phá hoại, hay bộc phát phá hoại một cách vô cớ. Trong tình huống này, Phá quân như con ngựa bị cương tỏa, bị kiểm soát, khiến cho cấu tạo của tinh hệ tràn đầy mâu thuẫn. Cho nên, hễ Phá quân thủ mệnh ở Thìn Tuất Sửu Mùi, đều chủ về tinh thần của mệnh tạo bất an, nảy sinh tâm lý khó chịu, thường chủ động tìm cách bộc lộ phát tiết, để giải tỏa sự mất quân bình về tâm lý. Nếu Phá quân gặp các sao Sát Kị, thì phần nhiều cảnh ngộ đời người sẽ trắc trở, gập gềnh, bất đắc chí, tâm lý mất quân bình càng nặng hơn. Nói “tính phản nghịch” của Phá quân, tức là nói đến kết quả của sự ảnh hưởng kềm chế lẫn nhau giữa hai sao Tử vi và Phá quân khi đồng độ. Tuy nhiên “tính phản nghịch” này sẽ không biểu hiện một cách tùy tiện.
      Hệ “Tử vi Phá quân” thêm vào tính chất của sao Thiên tướng, dễ phát triển thành mẫu người có hệ thần kinh kích thích đột biến, trừ khi cung mệnh gặp sao Lộc, mà còn phải tụ tập đủ các Cát tinh, khiến cảnh ngộ đời người thuận lợi toại ý. Nếu không mệnh cách loại này đột nhiên phản ứng dữ dội, mà bản thân họ cũng không thể khống chế kiểm soát được tâm trạng này.
      Phá quân và Liêm trinh đồng độ hội hợp trong tình hình tốt, có thể cương nhu chế hóa lẫn nhau. Nếu hội hợp trong tình hình xấu, thì biến thành xung đột thị phi, mệnh cách sẽ không từ thủ đoạn nào để giải quyết mâu thuẫn.
      Vũ khúc có tính chất “cô độc và hình khắc”, khi hội hợp đồng độ cùng với Phá quân, khiến mệnh cách có tính lạnh lùng, nghiêm khắc một cách quá đáng, dễ phát triển thành tự tư tự lợi, chỉ nghĩ đến bản thân. Muốn thay đổi tính cách này, cần phải có nỗ lực hậu thiên rất lớn. Kết cấu tinh hệ “Vũ khúc Phá quân”, rất kị gặp các sao khoa cử công danh, bởi vì, có thể phát triển thành tính nết kỳ quái lạnh lùng, trong khi nội tâm lại rất ưa có danh tiếng. Trời rét thấu xương mà không chịu mặc áo ấm, là mẫu người có kết cấu tinh hệ kiểu này.
      Phá quân thủ mệnh không ưa an định
      Phá quân có lực phá hoại khá nặng, cổ nhân cho rằng nó hóa khí là “hao”. Ý nghĩa của “hao” là "tiêu ma", vì lực phá hoại của Phá quân sẽ không đến một cách đột nhiên, mà thường có mang tính chất “tiêu ma”, khiến cho sự tình đang từ tiệm biến chuyển thành đột biến. Hành động của con người ở hậu thiên có thể bổ cứu cho sự thiếu xót của tiên thiên, Phá quân là một ví dụ, bởi vì trong quá trình chuyển biến, mệnh tạo có rất nhiều cơ hội để xoay chuyển tình thế của mệnh cách cũng như của mệnh vận. Khi luận đoán cần chú ý.
      Cổ nhân ưa an định, mà không ưa biến động, thay đổi, do vậy không đề cao tính cách của Phá quân. Đối với nữ giới có Phá quân thủ mệnh, nhất là người dung nhan xinh đẹp, cổ nhân nói “Nếu nữ mệnh gặp Phá quân, chủ về không có bà mai mà tự gả”, “Sao Phá quân tính bất minh”, chú thích viết “Đây là sao cô độc dâm dật, không thích hợp với nữ mệnh; thêm tứ sát, ắt sẽ vì gian dâm mà hại chồng, vì ghen ghét mà hại con, không phải vậy thì là xương kỹ, tỳ thiếp thấp hèn”. Những nhận xét này, có thể đúng phần nào với xã hội cổ đại, bởi vì phụ nữ thời cổ đại không có sự nghiệp riêng. Người có Phá quân thủ mệnh, cần phải tìm kích thích, để cho tâm lý được quân bình, cho nên dễ dẫn tới gia đình bất hòa, thậm chí luân thường đảo lộn. Nhưng, xã hội hiện đại thì khác, phàm là nữ mệnh có Phá quân tọa mệnh, nhất định không chịu làm bà nội chợ, bởi vì có thể tìm được kích thích từ sự nghiệp, sức mạnh “tiêu ma” của Phá quân cũng từ gia đình dời vào trong cương vị công tác.
      Về đại thể, người có Phá quân thủ mệnh, nhất định không chịu sống nhàn hạ, dù sự nghiệp đã thành cục diện ổn định, họ cũng phải tìm cho được chuyện làm để khiến người ta phải kinh hãi. Nếu sức mạnh bảo thủ quá lớn, thì họ dễ trở thành người làm mưa làm gió. Do đó muốn đánh giá Phá quân, cần phải tính đến đặc tính này. Giả dụ có thể đặt người này vào một cương vị độc lập sáng tạo, họ có thể phát huy được sở trường, khiến sự nghiệp có thể thành tựu một cách đột phá, sáng tạo ra cục diện mới. Nếu có ý định không thay đổi, thì không thích hợp với người có Phá quân thủ mệnh. Đây chính là điểm mà cổ nhân đã lấy làm căn cứ, để bình luận về nữ mệnh Phá quân. Vì vậy, ở thời hiện đại, có một số người Phá quân thủ mệnh cực kỳ oan uổng, họ bị xem là “bọn gây ra thị phi”. Thực ra, có thể vì thượng cấp của họ không biết dùng sở trường của họ.
      Phân biệt các “động tinh”
      Trong Đẩu Số, gồm mấy sao có tính chất “động” cần phân biệt một cách tinh tế, như: Thiên cơ, Thất sát, Phá quân, Tham lang, Thiên mã.
      Tính “động” của Thiên cơ là “động” của “động não”, như thay đổi kế hoạch, mưu tính,…
      Tính “động” của Thất sát, Phá quân, Tham lang, về đại thể, là chỉ một giai đoạn biến động thay đổi về sự nghiệp hoặc cuộc sống, như sự nghiệp căng thẳng, nhân sinh quan thay đổi,…
      Tính “động” của Thiên mã, là chỉ “động” của thân thể, như đến nơi khác ở, hay đi tiếp xúc công việc, hoặc bôn ba vì sinh kế,…
      Đây là đại cương phân biệt các “động tinh”, nhưng có lúc về chi tiết rất dễ lẫn lộn. Ví dụ như, nhìn vào mệnh bàn, phát hiện ra mệnh tạo có sự thay đổi về công việc, đây là vì lưu niên gặp Thiên cơ, nhưng cũng có người là vì gặp phải Thất sát, Phá quân, Tham lang, làm sao phân biệt ? Về đại thể, vì tính “động” của Thiên cơ mà xảy ra thay đổi, là thuộc về tính hế hoạch, còn vì Thất sát, Phá quân, Tham lang mà xảy ra thay đổi, thì ít nhiều cũng mang ý vị khai sáng.
      Ví dụ như, có người bôn ba, bận rộn là vì ảnh hưởng của Thiên cơ, nhưng có người lại vì cung Mệnh hoặc cung Phúc đức gặp Thiên mã. Làm sao phân biệt các trường hợp này ? Về đại thể, bôn ba của Thiên cơ vẫn là vì kế hoạch; còn bôn ba của Thiên mã là do nghề nghiệp phải như vậy. Ví dụ như một thương nhân, vì phải bàn bạc kế hoạch đầu tư, nên phải đi máy bay thường xuyên giống như đi taxi, đây là “động” của Thiên cơ, nhưng một nữ tiếp viên hàng không, cũng phải đi máy bay thường xuyên giống như đi taxi, thì lại thuộc tính “động” của Thiên mã, cũng chủ về “động”, là “động” do nghề nghiệp phải như vậy.
      Ba sao Thất sát, Phá quân, Tham lang ở trong mệnh bàn, là then chốt của sự biến động. Ở xã hội cổ đại, người xưa quan niệm nên “tĩnh” không nên “động”, mọi việc đều chú trọng phòng thủ, đi buôn xa không bằng mở hiệu buôn bán tại chỗ, người có học thì sợ sự nghiệp có sự thay đổi, thay đổi thì danh tiếng sẽ không như ý, cho nên ba sao Sát Phá Tham bị xem là “Trúc la tam hạn”.
      Nhìn từ quan điểm của xã hội hiện đại, sự nghiệp thay đổi chẳng có gì phải đáng sợ, trái lại, đây còn có thể là cơ hội của đời người, do đó cách đánh giá “Sát Phá Tham” cũng sẽ phải khác với thời cổ đại. Tuy về đại thể, mỗi sao đều có tính chất biến động thay đổi trong cuộc đời hoặc sự nghiệp, nhưng mỗi sao vẫn có đặc tính khác nhau.
      Tính cách của Thất sát chủ về “độc lai độc vãng”, có sức khai sáng mạnh, mà còn “phá hoại trước rồi kiến thiết sau”, nhưng thiếu thận trọng. Cho nên, cổ nhân đánh giá không cao người có Thất sát thủ mệnh, cho rằng khó được vinh hiển. Xã hội ngày nay khác với xã hội cổ đại, người có tính cách mạo hiểm, trái lại, sẽ dễ khai sáng sự nghiệp, hơn nữa, cơ hội khai sáng cũng nhiều hơn. Tại sao lại khó vinh hiển ?
      Phá quân giống Thất sát, cũng có đặc tính phá hoại, chủ về biến động cực kỳ lớn, có thể ảnh hưởng cả cuộc đời, nhưng khi phân tích tỉ mỉ thì vẫn có sự phân biệt. Phá quân thích hợp ở vai trò khai sáng, mà bất lợi ở vai trò phòng thủ,  cho nên, sau khi khai sáng sự nghiệp được một thời gian vài ba năm thì bắt đầu chán, mất hứng thú; còn người Thất sát thủ mệnh thì trái lại, vẫn có thể tiếp tục phát triển sự nghiệp. Thất sát tuy có tính “độc lai độc vãng”, nhưng lực phá hoại lại nhẹ hơn Phá quân. Vì vậy mà Cổ thư đánh giá Phá quân thấp hơn Thất sát, nói Phá quân là “phóng đãng”.
      Tham lang cũng chủ về biến động thay đổi, nhưng nhỏ mà còn ổn trọng. Vì vậy thiếu tính khai sáng, tính chất biến động thay đổi lại thiên nặng về quan hệ xã giao. Nên người có Tham lang thủ mệnh chỉ tiếp cận một số người trong nhất thời, qua một thời gian là bắt đầu xa lánh. Nói tính cách này bất lợi đối với sự nghiệp, nhưng ngày nay, tính cách này của Tham lang cần phải có cách nhìn khác, để phù hợp với hoàn cảnh xã hội khi giao thời.
      Hiểu rõ những đặc tính trên, khi phán đoán vận trình sẽ mang lại tính chính xác và độ tin cậy cao hơn.
Read more…

Mạn đàm về Liêm Tham

tháng 9 04, 2018 |
Liêm Trinh tính âm Hỏa, Tham Lang Dương Mộc đới Thủy. Tham Lang chủ dương, con trai, đàn ông; Liêm Trinh chủ con gái, đàn bà. Xét về ý tượng, là thấy biểu tượng nam nữ ở chung một nơi, do đó tiềm tàng dâm tính. Lại nói Tham Lang là đào hoa tinh, Liêm Trinh là thứ đào hoa, hai sao có ý vị đào hoa rất mạnh ngồi chung với nhau, nên tính dâm thường dễ xuất hiện. Cảnh ngộ trong đời của cặp Liêm Tham thường khó thoát khỏi ý vị này. Phú viết: LIÊM  THAM đồng độ nam đa lãng đãng nữ đa dâm”.

Hạn hành đến Liêm Tham, thường là xuất hiện tình cảm, hành vi đào hoa, nếu chưa có người yêu, chưa kết hôn thường đến đây sẽ có, nếu đã có người yêu, đã kết hôn, dễ sinh sự ngoại tình, hoặc tình yêu tay ba. Khi có thêm các dâm tinh như Đào Hồng Diêu, Xương Khúc...tình hình này càng thêm rõ (tất nhiên Đào Hoa chỉ hội từ tam hợp về, vì không đóng ở Tỵ Hợi)

Tham Lang giỏi giao tế thù tạc, quản thiện ác, Liêm Trinh quản về tù ngục, về công quyền. Tham Lang trong bộ Sát Phá Tham giỏi tìm kiếm khám phá, Liêm Trinh do quản tù ngục, có chức năng chính trị, hành chính, là sao giỏi dò xét theo dõi. Do đó khi đồng độ, đặc tính khám phá, theo dõi giám sát trở nên nổi trội.

Liêm Trinh đại diện cho việc công, Tham Lang thường tư lợi. Do đó trong môi trường công tư lẫn lộn, thường nảy sinh ý định chiếm đoạt của công làm của tư, tức mang hàm ý tham nhũng. Cũng có thể là lợi dụng việc công để thỏa mãn việc tư.

Tham Lang ưa mạo hiểm (do ảnh hưởng của Sát Phá), Liêm Trinh Hỏa tính, tâm tính bất định khó lường, khi hai sao đồng độ dễ phiêu lưu mạo hiểm.

Liêm Trinh mang hàm nghĩa trinh liệt, gặp Tham Lang đào hoa tinh, hàm nghĩa trinh liệt khó bảo toàn. Nam nữ dễ ngoại tình, nô tớ dễ bỏ sang thờ chủ khác.

Liêm Trinh hóa khí là Tù, tổ hợp Liêm Trinh Tham Lang khi hội thêm Kình Hình Kỵ, Bạch Hổ, Quan Phù, Đường Phù, Kiếp Sát dễ sa vào tù tội. Liêm Tham tị Hợi hình ngục nan đào

Liêm Trinh mang nguy cơ máu huyết sản nạn, Mệnh hạn Liêm Tham ngộ Bạch Hổ Hóa Kỵ, ngoài nguy cơ về bị theo dõi quản thúc, còn có nguy cơ bệnh tật liên quan đến xương máu.

Khi được cát hóa, Liêm Tham Tỵ Hợi mang lại những thành công, những phát hiện khám phá có tính chiều sâu, hoặc nhuyễn hóa thành nghệ thuật, trở nên khéo léo trong giao tiếp, hoặc có thành tích trong ngành công nghệ, kiến trúc, mỹ thuật.

Liêm Tham ngộ Hỏa Linh, nhờ sự tương hợp tuyệt vời giữa Tham Hỏa và Tham Linh đưa đến những thành công đáng nể. Tuy nhiên nếu đóng cung Tỵ, tính Hỏa quá mạnh khiến cuộc sống có thành công cũng không mấy yên vui, hoặc thành nhanh mà sau phá bại.

“THAM LANG nải lãng đãng chi tính ngộ KHOA QUYỀN nhi học nghiệp tinh thông". Tổ hợp này ngộ Khoa Quyền, phần lớn là tu học thành công, trời yên bể lặng.

"Hai tù tinh LIÊM THAM Tị Hợi.Ngộ TRIỆT TUẦN phản hữu kì công"

Tuần Triệt ngăn chặn được tham vọng của Tham Lang, kìm tính tù Liêm Trinh, nhưng muốn phản hữu kỳ công tất phải được cát hóa. 
  Tại Tỵ, gặp Triệt ở Can Bính Tân, Can Bính Liêm Trinh hóa thành sao Kỵ, lại gặp cách Kình Đà hiệp Kỵ vi bại cục, do đó cách này ở can Bính là bại. Lại thêm gặp sao Tuyệt sinh ra do thế của Thủy nhị cục ở  cung này, càng khó thoát lưới.
 Can Tân cung Tỵ ngộ Tướng Quân. Tuy Liêm Trinh ngộ Tướng Quân là hợp cách, nhưng dính ngay cách Tướng Quân ngộ Triệt, cũng không khỏi đau thương.

Tại Hợi, chỉ ngộ Tuần không ngộ Triệt. Tuần Giáp Tý mệnh đóng Tuất Hợi. chỉ có tuổi Mậu Thìn cung Hợi ngộ Hồng Lộc Phi Liêm, tuổi Kỷ Tỵ có Vũ Tham Hóa Quyền Lộc nhưng tam hợp có Kình Đà, cũng vất vả lắm mới phản hưu kỳ công. Tuổi Giáp Tý có Liêm Phá hóa ra sao Quyền Lộc, Hồng Loan Kình Dương tam hợp từ cung Mão. Tuổi Bính coi như bại hoàn toàn.
Tuần ở cung Thìn Tỵ là trường hợp của con nhà Giáp Ngọ. Như vậy được các tuổi Giáp Ngọ, Mậu Tuất, Kỷ Hợi. Tuổi Kỷ Hợi cung Tỵ ngộ Tuần Đà Thiên Hư, cũng khó phản kỳ công, chưa kể Phá Toái cung Dậu hội về. Tuổi Giáp Ngọ ngon hơn chút nhưng tam hợp có Đà La thường rối rắm và chậm. Như vậy được tuổi Mậu Tuất có vẻ ngon nhất.

Có quan điểm của Phan Tử Ngư và một số lý số gia cho rằng Liêm Tham ngộ Xương Khúc ở đất Tị Hợi là hung hiểm (Liêm trinh nhập Tị địa hoặc Hợi địa, ở Tị là hãm nhược ở Hợi là miếu vượng, nhưng không hợp Văn xương và Văn khúc đồng cung, lập Mệnh gặp trường hợp này thì chủ về chết bất đắc kỳ tử hoặc chết yểu. Hành hạn nếu gặp trường hợp như vậy thì cũng có hiện tượng hung hiểm, tan xương nát thịt)
Quan điểm này hẳn có tiềm lý sâu xa, thiết nghĩ cũng nên tham khảo và chiêm nghiệm.
“Liêm Trinh Xương Khúc ư Tị Hợi. Tao hình bất thiện thả hư hoa”
“Xương Khúc mà gặp LIÊM TRINH. Ở cung Tị Hợi tân sinh khó toàn”
"Liêm Trinh Xương Khúc chỉ táng mạng nhi yểu niên".




Read more…