Hán Việt dịch lược sử - 29

tháng 2 09, 2018 |
DỊCH BẢN-ĐỒ KHẢO
    

NỘI-THIÊN HẠ
(305tr. 95-106)

Quái Hoạch IX
Hình 23.32 Lục-Thập-Tứ-Quái 
Biến-Thông-Đồ
 
       Đại-truyện nói: "Cứng mềm là dựng cái gốc, biến-thông là xô theo thời (Hạ-Hệ I/4). Có tốt, có xấu là chính thì thắng vậy" (Hạ-Hệ I/5). Đạo trời đất là điều chính để chỉ bảo. Đạo mặt trởi, Đạo mặt trăng, là hiệu-chính điều đó để làm sáng tỏ, mọi hoạt-động trong thiên-hạ từ điều chính quay về một lẽ phải vậy (Hạ-Hệ I/6)".
          Đoạn này cuả Hạ-Hệ phát-minh nghiã cuả Hậu-thiên Lục-thập-tứ Quái biến-thông. Cứng mềm là bản-thể cuả biến-thông, biến-thông là thời-dụng cuả cứng mềm. Lấy đồ mà suy, kiền cứng, khôn mềm, dựng ở trên dưới, bèn là định-thể bất-dịch, nên nói: cứng mềm là dựng cái gốc vậy. Hào sơ cuả Khôn, mềm mà xô về cứng, là Phục, là Lâm, là Thái, là Đại-tráng, là Quyết, tiến đến cực-đại mà hoá ra Kiền. Sơ-hào cuả Kiền hoá mà xô về mềm, là Cấu, là Độn, là Bĩ, là Quan, là Bác, thoái đến tận cùng mà làm thành Khôn, từ muà hè cho chí muà đông vậy. Nên nói: biến-thông là xô theo thời. Ôi! Kiền, Khôn lấy sơ-hào biến, mà một quẻ một âm, một dương đều có sáu, đều từ Cấu, Phục mà suy; hai hào biến, mà quẻ hai hào âm, hai hào dương gồm có 15 quẻ đều từ Lâm, Độn mà suy; 3 hào biến, mà quẻ 3 hào âm hoặc 3 hào hào dương, gồm có 20 quẻ, đều từ  Thái, Bĩ mà suy ra; 4 hào biến, mà quẻ 4 hào âm hoặc 4 hào hào dương, gồm có 15 quẻ, đều từ  Đại-tráng, Quan mà suy ra; 5 hào biến, mà quẻ 5 hào âm hoặc 5 hào hào dương, gồm có 6 quẻ, đều từ Quyết, Bác mà suy ra, dọc-ngang, trên-dưới, sấp-ngửa đun đẩy nhau, chẳng gì là không có thể được. Biết thửa thông-biến, ắt không câu nệ gì, mà không gì là chẳng thông. Chính là cái mà Truyện gọi là "Biến-động chứ không ở yên, đi vòng khắp sáu cõi, trên dưới không thường, cứng mềm đắp đổi, chẳng nên dùng làm điển-yếu, chỉ biết biến-hoá bằng thích" (Hạ-Hệ VIII/1). Như vậy, dương chủ tiến từ Phục mà tả-thăng; âm chủ thoái từ Cấu mà hữu-giáng. Thái-Bĩ ắt âm-dương trung-phân, từ dần đến thân đều là ban ngày,mà Kiền thực-sự bao trùm, từ dậu đến sửu đều là ban đêm, mà Khôn thực-sự đi theo, nên Thượng-Hệ nói: "Biến-hoá là tượng tiến lui, cứng mềm là tượng ngày đêm, biến-động sáu hào là cái Đạo cuả  tam-cực vậy" (Thượng-Hệ II/4). Hoặc cứng, hoặc mềm, hoặc mất, hoặc được, mà lẽ cát hung thường thắng nhau vậy. Kiền trên, Khôn dưới, định-thể bất-dịch, Đạo trời đất là điều-chỉnh để chỉ bảo. Ly nam, khảm bắc, mặt trời tốt đẹp ban ngày, mặt trăng sáng suả ban đêm, đạo nhật-nguyệt để làm sáng tỏ. Động cuả thiên-hạ biền-hoá vô-cùng, thận-lý ắt cát, nghịch-lý ắt hung, ắt thửa chính thường hữu-hằng để thống-nhất, cũng chỉ là một lý mà thôi.
       Án: Chu-tử khi điều-lý 'Tham-đồng-khế', lấy kiền-khôn làm đỉnh-khí, khảm-ly làm dược-vật, 60 quẻ còn lại làm hoả-hầu. Nay lấy đồ này mà suy, vì nhân-thân hợp với âm-duơng cuả trời đất. Kiền là đầu mà cư thượng, khôn là bụng mà cư hạ, ly là tim, khảm là thận. Tim là hoả vậy, thận là thủy vậy, nên ly trên, khảm dưới. Dương khởi từ Phục, từ tả mà thăng, do đốc-mạch, dương-mạch cuả con người mà khởi, từ hậu-môn theo xương sống mà chạy lên tới đầu; âm khởi từ Cấu, từ hữu mà giáng, từ nhâm-mạch, âm-mạch cuả con người mà đến, từ yết-hầu, lần theo ngực mà đi xuống bụng. 12 quẻ ở trên pháp-thiên, khinh thanh cuả trời nên đều là 4 hào dương hay 5 hào dương. 12 quẻ ở dưói pháp-điạ, điạ là âm, trọng-trọc nên đều 4 hào dương hay 5 hào dương. 12 quẻ ở giữa tượng người. Người là đức cuả trời đất, là âm-dương giao, nên là quẻ 3 âm, 3 dương, cũng như kinh-mạch cuả con người, tay chân mỗi cái có 3 âm, 3 dương-mạch vậy. Lại như thượng-bộ con người pháp-thiên, trung-bộ pháp-nhân, hạ-bộ pháp-điạ, cũng có nghiã cuả chúng. Do đó mà nói, ắt nghiã 'tham-đồng' không vu-vơ vậy. Còn như quẻ Hằng cư trung, ắt như Kinh Thư nói: như có hằng-tính, như Dịch-truyện bảo 'hằng lấy một đức'. Mạnh-tử nói: "Hằng tâm mà hằng đấy".  Thoán-truyện quẻ Hằng nói: "Mặt trời, mặt trời được trời nên chiếu sáng lâu, bốn muà biến-hoá mà chuyển vần lâu, thánh-nhân giữ cái đạo cuả mình mà thiên-hạ hoá thành; xem cái đạo thường ấy, mà cái tính cuả trời đất muôn vật có thể thấy được".

Quái Hoạch X 
Hình 23.33 Lục-Thập-Tứ-Quái 
Trí-Dụng-Đồ
 
       Thuyết-quái-truyện V/1 nói:  "Đấng chủ-tể ra ở phương Chấn (phương đông), muôn vật đều thanh-khiết ở phương tốn (đông-nam), thấy nhau ở phương ly (phương nam), làm việc ở phương khôn (phương tây-nam), vui nói ở phương đoài (phương tây), đánh nhau ở phương kiền (phương tây-bắc), khó nhọc ở phương khảm (phuơng bắc), làm việc thành lời ở phương cấn (đông-bắc)".
          Đồ 23.30 làm sáng tỏ tượng cuả Hậu-thiên Lục-Thập-Tứ-Quái Trí-Dụng-Đồ. Thửa quái-vị sở do định, Chu-tử thường suy-nghĩ, thấy thiêu thiếu cái gì, bất tất cưỡng thông. Mà hậu-nho lấy quái-hào giao-dịch, thứ-tự ngũ-hành làm thuyết, nhân thửa trông thấy tại ngôi, phụ-hội ức-đoán, vô-căn-cứ. Nay dựa vào Hà-đồ tượng-số biến-hợp, phục-suy tiên-thiên quái-vị cùng các phệ-thư thế-tục được truyền, làm ra đồ để suy-cứu đồ ấy: kiền khởi nơi tây-bắc, nghiã cuả 'thiên khuynh tây-bắc = trời khuyết nơi đông-bắc' vậy (nguyên-văn khuyết một câu). Kiền đã ở tây-bắc, ắt khôn đương ngôi đông-nam, lấy nghiã cuả 'điạ bất mãn đông-nam = đất không đầy đông-nam', nên tốn trưởng-nữ thay mặt thế chỗ, tốn cũng là tiên-thiên phản-quái cuả đoài vậy. Là để khôn thoái cư tây-nam, ba hào đều biến mà thành kiền; kiền ba hào đều biến mà thành khôn, hỗ-tương phản-đối, mà ngôi cuả kiền-khôn dọc vậy. Ly hoả bốc cháy lên cao, cư nam, khảm  thấy thấm nhuần xuống dưới, cư bắc. Khảm ba hào đều biến ra ly, ly ba hào đều biến thành khảm, cũng hỗ-tương phản-đối, mà ngôi cuả khảm-ly dọc vậy. Cấn phản tiên-thiên chấn, mà ngôi ở đông-bắc, tốn phản tiên-thiên đoài mà ngôi ở đông-nam. Cấn ba hào đều biến ra đoài, lật ngược mà xem xét, ắt là tốn, cũng hỗ-tương phản-đối, mà ngôi cuả cấn-tốn dọc vậy. Điện kích-thích mà thành sấm sét, nên chấn cư chính-đông, ngôi tiên-thiên cuả ly, ly hoả bốc cháy lên trên, nên thượng hào biến chấn, ba hào đều biến mà đi sang tốn, lật ngược mà xem ắt là đoài. Nước đọng là đầm, nên đoài cư chính tây, ngôi cuả khảm tiên-thiên, khảm thủy nhuận hạ, nên lấy hạ-hào biến đoài, ba hào đều biến mà đi sang cấn, lật ngược mà xem, ắt là chấn, nên chấn–đoài trái-phải phản-đối nhau, mà ngôi cuả chúng ngang vậy. Thiệu-tử nói: "Chấn-đoài ngang mà sáu quẻ dọc, đó là dụng cuả Dịch vậy". Lời nói chí lý thay! Duy thửa như thế, nên cung-quái bốc-phệ thời nay, cũng là kiền-khôn tương-phản, chấn-đoài tương-phản, cấn-tốn tương-phản. Cấu cuả Kiền-cung từ Khôn, mà phản-quan nó, ắt là Quyết; Độn cuả Kiền phản Đại-tráng cuả Khôn; Bĩ cuả Kiền phản Thái cuả Khôn; Quan cuả Kiền phản Lậm cuả Khôn; Bác cuả Kiền phản  Phục cuả Khôn vậy. Tiết cuả cung Khảm từ Ly, lật ngược mà xem, ắt là Hoán; Truân cuả Khảm phản-đối với Mông cuả Ly; Ký-tế cuả Khảm phản-đối với Vị-tế cuả Ly; Cách cuả Khảm phản-đối với Đỉnh cuả Ly; Phong cuả Khảm phản-đối với Lữ cuả Ly vậy. Bí cuả Cấn-cung từ Tốn, lật ngược mà xem, ắt là Phệ-hạp; Đại-súc cuả Cấn, phản-đối Vô-võng cuả Tốn; Tổn cuả Cấn phản-đối Ích cuả Tốn; Khuê cuả Cấn phản-đối Gia-nhân cuả Tốn; Lý cuả Cấn phản-đối với Tiểu-súc cuả Tốn vậy. Dự cuả cung Chấn từ Đoài, mà phản-quan, ắt là Khiêm; Giải cuả chấn phản-đối với Kiển cuả đoài; Hằng cuả chấn phản-đối với Hàm cuả đoài; Thăng cuả chấn phản-đối với Tụy cuả đoài; Tỉnh cuả chấn phản-đối với Khổn cuả đoài. Còn như hai quẻ du-hồn, quy-hồn, bảo là không thuận với bát-cung chính-biến. Lấy bản-cung đệ-ngũ-hào biến mà được quẻ cuả ngoại-thể, ba hào cuả nội-thể đều biến, ắt là du-hồn. Nói là du vì đi từ nội ra ngoại vậy. Đệ-ngũ-hào biến mà nội-tam-hào không biến, ắt là quy-hồn. Nói là quy, là vì từ ngoài mà đi trở vào trong vậy. Chu toàn tả-hữu, thăng-giáng thượng-hạ, lễ-pháp cuả bậc vương-giả đều cùng tột. 

Minh Thi-Sách
Hình 23.34  
          Đại-truyện nói: "Số đại-diễn 50, chỉ dùng 49". Chu-tử nói: "Số đại-diễn lấy từ trung-cung cuả đồ, trời 5 nhân với đất 10 mà được. Lấy 5 x 10 hay lấy 10 x 5 đều được 50 (do tính giao-hoán cuả phép nhân), trí-dụng để bói cỏ thi ắt lại chỉ dùng 49, đều xuất từ lý-thế tự-nhiên, không phải là trí-lực con người năng thêm bớt được".
          Hình 23.31  là 49 sách cuả cỏ thi, buộc lại thành  bó, để pháp-tượng thái cực toàn-thể. Lẽ sở dĩ nhiên cuả thửa số, thâu tóm thực-thể cuả bát-quái sinh hào. 7 vạch cuả duơng-nghi: nghi 1 vạch, tượng 2 vạch, quẻ 4 vạch. 7 vạch cuả âm-nghi: nghi 1 vạch, tượng 2 vạch, quẻ 4 vạch. Nhân gấp 7, 7 x 7 = 49.
       Thượng-Hệ XII/2 nói: "Cái đức cuả cỏ thi tròn mà thần-diệu. Tròn là số lẻ, gom 7 tròn lại làm thành một bó, ắt có hình tròn tự-nhiên. Đức cuả quẻ vuông để trí-trị (suy xét tới cùng để biết đến nơi đến chốn" (Thượng-Hệ XI/2). Vuông là số chẵn, tám vuông sánh vai mà chồng chất lên nhau, ắt có hình vuông tự-nhiên vậy. Thần là diệu-dụng khôn lường; trí là biến-thông không cố-chấp. Cỏ thi duơng, quẻ âm; cỏ thi động, quẻ tĩnh, thể-dụng cuả Đại-Dịch rất mực vậy.
          Tay phải phân một. Thượng-Hệ IX/2 nói: "Phân mà làm thành hai để tượng lưỡng, treo một để tượng 3". Luỡng là thiên-điạ vậy; tam là nhân vậy.
Hình 23.35 
            Trong Đồ 23.3249 sách cuả cỏ thi, phân đôi để tượng lưỡng, mà treo một sách ở giữa để tượng nhân, trái-phải 48 sách để thâu tóm thực-tế cuả quái-hào. Bát-quái trải 24, gấp đôi là 48, lại mỗi quẻ bát-biến nữa, thửa hào cũng là 48 vậy.
          Trong thửa thiệt-pháp, trước tiên, tay trái nắm lấy nửa trái cuả sách, còn tay phải lấy nửa phải cuả sách mà treo nơi giữa, không phục-động để tượng-trưng con người sống giữa trời đất. Thửa âm-dương, lạnh nóng, ngày đêm, biến-hoá, nghe nơi trời mà không cho vậy. Một tuy không cho, mà thường cũng cùng dung với 48. Tham là tam-tài; sau đó, lấy tay phải rút từng 4 cọng một từ sách cuả tay trái mà quy-cơ, hoặc dư 1, hoặc dư 2, hoặc dư 3, hoặc dư 4, đặt vào kẽ giữa ngón út và ngón áp-út, gọi là lặc, tượng 3 năm nhuận một lần. Lại lấy tay phải nắm lấy nửa sách phải, dư 1 lấy 3, dư 3 lấy 1, dư 2 lấy 6, dư 4 lấy 4, quy nơi kẽ giữa ngón áp-út và ngón giữa, gọi là tái-lặc, tượng 5 năm tái-nhuận. Mà số cuả hậu-quải quy-cơ, gọi là tổng sở quy nhị cơ, đặt nơi quải chi nhất sở, như quải nhất pháp. 'Vận -hội' nói: hợp mà đặt đó vậy. Thửa số quy-cơ, không 4 ắt 8, không có gì là không 5 ắt 9. Được 4 là lẻ, 1 cái 4 vậy. Được 8 là chẵn, 2 cái 4 vậy. Lúc đó, phục-hợp sách quá-thiệt, hoặc 40, hoặc 36, hoặc 32, phân, thiệt, quy, quải, làm đệ-nhị-biến. Lại phục-hợp cái thừa cuả quá-thiệt sách, hoặc 40, hoặc 36, hoặc 32, phân, thiệt, quy, quải, làm đệ-tam-biến. Sau đệ-tam-biến, rồi mới xem số sách treo, đuợc 3 lẻ là lão-duơng, 3 chẵn là lão-âm. 2 chẵn 1 lẻ, lấy lẻ làm chủ, là thiếu-dương; 2 lẻ 1 chẵn, lấy chẵn làm chủ, là thiếu-âm. Mỗi tam-biến mà thành 1 hào, 18 biến mà thành 1 quẻ; 1 quẻ có thể biến thành 64 quẻ, mà 4096 quẻ ở tại bên trong vậy. 
Hình 23.36 
            Thượng-Hệ IX/2 nói: "Đếm 4 để tượng bốn muà, dành cái lẻ thừa về một bên để tượng tháng nhuận, 5 năm hai lần nhuận, cho nên hai lần  dành cái lẻ ra rồi mới kẹp vào". Trong Đồ 23.33, 4 lẻ để riêng, tả dư 1 ắt hữu dư 3, tả dư 3 ắt hữu dư 1, ắt là dương-số cuả luỡng-nghi quy-cơ. Tả dư 2 ắt hữu dư 6, tả dư 4 ắt hữu dư 4, âm-số cuả luỡng-nghi quy-cơ vậy.
          Chu-tử nói: "Tượng-đồ cuả lẻ, tròn là kính 1 mà chu-vi 3, dương dùng thửa toàn; lão-dương 3 lẻ, 3 x 3 = 9. Số cuả quá-thiệt cũng là 4 x 9 = 36. Tượng cuả chẵn là vuông, vuông là kính 1 mà chu-vi 4, âm dùng phân nửa, lão-âm 3 chẵn, 3 x 2 = 6, số quá-thiệt cũng là 4 x 6 = 24. Thiếu-dương 1 lẻ 2 chẵn, 1 lẻ là 3, 2  là 2, tích 1 + 3 và 2 + 2 là 7, số quá-thiệt  cũng là 4 x 7 = 28.  Thiếu-âm 1 chẵn 2 lẻ, 1 chẵn là 2, 2 lẻ là 3, tích 1 + 2 và 2 + 3 là 8, số quá-thiệt  cũng là 4 x 8 = 32.  Đó là kỳ-diệu tự-nhiên cuả thi-số quái-hoạch".   
Hình 23.37
  
3 biến được 2 lẻ 1 chẵn, lấy chẵn làm chủ, tức thửa chẵn tại sơ, tại nhị, tại tam, có loại như tốn, ly, đoài, thửa vạch là ? mà không biến. 3 biến được 2 chẵn 1 lẻ, lấy lẻ làm chủ, tức thửa lẻ tại sơ, tại nhị, tại tam, có loại như chấn, khảm, cấn, thửa vạch là > mà không biến. Phàm có 8 thể ấy, cũng là tượng cuả bát-quái vậy. Nhóm 1 là 24 thể, nhóm 2 cũng là 24 thể. Nhóm 3 là 8 thể, nhóm 4 là 8 thể, vị chi là 64 thể. Đồ-thuyết như sau:
Tái-biến được lẻ là sách cuả khảm 8. Sơ-biến, được lẻ, là sách cuả chấn 8. Quy-cơ được 5, 5 cái 5 quá-lặc đuợc 7, 7 cái 4, là chính cuả dương mà không biến.     
Đồ 23.38
 
Lấy sơ-biến tức được chẵn, là sách cuả tốn 8. Tái-biến, được chẵn, là sách cuả ly 8. Tam-biến, được chẵn, là sách cuả đoài 8, quy-cơ được 16 sách, quá-thiệt được 32 sách, chia cho 4, quy-công được 4, 4 cái 4 quá-thiệt  được 8, 8 cái 4 là chính cuả âm mà bất-biến.
Quy-công được 32 sách, quá-lặc đuợc 32 sách, lấy 4 mà chia, quy-công được 3, 3 cái 4 quá-thiệt được 9, 9 cái 4, 9 là cực cuả dương, biến thành âm. Dịch lấy biến làm bói, phàm lấy cuả dương-hào thông-xưng là 9. 
Hình 23.39 
Trong Đồ 25.37, tam-biến đều chẵn, là lão-âm, sách cuả khôn là 8. Quy-lặc được 24 sách, quá-thiệt cũng được 24 sách, lấy 4 mà chia, quy-công được 6, 6 bây giờ quá-thiệt cũng được 6, 6 cái 4, 6 là âm-cực, biến thành dương. Dịch lấy biến để bói, phàm âm-hào thông-xưng là 6. 
Trong Đồ 25.37, tam-biến đều chẵn, là lão-âm, sách cuả khôn là 8. Quy-lặc được 24 sách, quá-thiệt cũng được 24 sách, lấy 4 mà chia, quy-công được 6, 6 bây giờ quá-thiệt cũng được 6, 6 cái 4, 6 là âm-cực, biến thành dương. Dịch lấy biến để bói, phàm âm-hào thông-xưng là 6.
Hình 23.40  

Khảo Biến Chiếm
Hình 23.41
          Kiền sách là 216, khôn sách là 144, vị chi là 360, tròn một năm bình-dân. Sách cuả hai thiên Thượng-Hạ là 11520, tương đồng với muôn vật. Cho nên, tứ doanh mà thành Dịch, 18 biến mà thành quẻ, bát-quái mà tiểu-thành. Dẫn thân ngoại-suy, xúc loại bàng-thông, năng sự cuả thiên-hạ đầy đủ vậy.
          Sách cuả kiền lấy số 36 cuả lão-dương mà nhân với số 6 cuả lục hào, ắt là 216. Sách cuả khôn lấy số 24 cuả lão-âm mà nhân với số 6 cuả lục hào, ắt là 144. Hợp lại, phàm 360, bằng với số ngày cuả một năm bình-dân. Lấy một tháng làm định-kỳ, lấy sóc mà nói, ắt là 354 ngày; lấy tiết-khí mà nói, ắt là 365 ¼ ngày; cử trung-số khí doanh sóc hư, nên nói rằng 360 ngày vậy. Nhưng mà sách cuả thiếu-dương là 28, tích 6 hào cuả kiền là 168. Số cuả thiếu-âm là 32, tích cuả 6 hào cuả khôn được 192, hợp lại cũng là 360. Mà Đại-truyện không nói đến, lấy dụng-cửu, dụng-lục cuả Dịch, mà không dụng-thất, dụng-bát vậy. Hai Thiên là 64 quẻ cuả Thượng-Hạ Kinh. Duơng-hào là 192, lấy số 3 cuả lão-dương mà nhân, tích 6912. Âm-hào 192, lấy lão-âm 24 mà nhân, tích 4608. Hợp lại ắt là 11520. Thiếu-âm 32, nhân âm-hào 192, tích 6144. Hợp lại cũng là 11520. Là biết số cuả thiếu-âm, thiếu-dương ẩn trong lão-âm, lão dương; 7, 9 đều là dương mà lẻ, 6, 8 đều là âm mà chẵn, ấy là chỉ cuả kiền-khôn 9-6 như thế vậy.
          Quẻ Kiền dụng-cửu: hiện quần long vô thủ, cát. Quẻ Khôn dụng lục: lợi vĩnh trinh. Hình 23.38 tả rõ thông-lệ cuả biến-chiêm 9-6 cuả 64 quẻ. Chu-tử nói: "Phàm 6 hào cuả quẻ đều bất-biến, ắt bói tượng-từ cuả bản-quái, mà lấy nội-quái làm trinh, ngoại-quái làm hối". Án: trong Tả-thị-truyện, Khổng-Thành-tử bói cỏ thi lập Vệ Công-tử Nguyên, gặp quẻ Truân C, chấn hạ khảm thượng, nói: Lợi kiến hầu. Tần Bá phạt Tấn, bói cỏ thi gặp quẻ Cổ R, tốn hạ cấn thượng, nói: trinh cuả Cổ, gió vậy; thửa hối là núi vậy. Quẻ này 6 hào bất-biến, là lệ bói, bản-quái tượng-từ, quái-tượng vậy.  

Read more…

Hán Việt dịch lược sử - 28

tháng 2 09, 2018 |
DỊCH BẢN-ĐỒ KHẢO
    


 

NỘI-THIÊN TRUNG
(305tr. 107-183)

Nguyên Quái Hoạch I: Thiên-Điạ Thiết-vị

Hình 23.23 Thiên Điạ Thiết-Vị


Quái Hoạch III

 
Hình 23.24 Bát-Quái Thành Liệt


Quái Hoạch IV

 Hình 23.25 Tiên-Thiên Bát-Quái Đối-Đãi Đồ


Quái Hoạch V

Hình 23.25 Hậu-Thiên Bát-Quái Lưu-Hành Đồ


Quái Hoạch VI

Hình 23.26 Tiên-Hậu-Thiên Bát-Quái
Đức-Hợp-Đồ


Quái Hoạch VII

Hình 23.27 Lục-Thập-Tứ-Quái
Tuần-Hoàn-Đồ 


Quái Hoạch VIII

Hình 23.28 Lục-Thập-Tứ-Quái
Nhân-Trùng-Đồ
  

NỘI-THIÊN HẠ

Quái Hoạch IX

Hình 23.29 Lục-Thập-Tứ-Quái
Biến-Thông-Đồ

  
Quái Hoạch X

Hình 23.30 Lục-Thập-Tứ-Quái
Trí-Dụng-Đồ


 Minh Thi-Sách

Hình 23.31

  
Hình 23.32

 
Hình 23.33

Hình 23.34

 
Hình 23.35

 
Hình 23.36

 

Hình 23.37

Read more…

Hán Việt dịch lược sử - 27

tháng 2 09, 2018 |
DỊCH BẢN-ĐỒ KHẢO
    

 
Dịch-Tượng Đồ-Thuyết Nội-Ngoại Thiên

(305, tr. 75-134)

Đây là một quyển sách rất quan-trọng về Dịch-tượng nên xin điểm sách xem kỹ càng. Sách gồm nội-ngoại Thiên, mỗi Thiên 3 quyển. Nội-thiên phàm 3 quyển: Bản Đồ Thư, Nguyên Quái Hoạch, Minh Thi Sách. Ngoại-thiên cũng gồm 3 quyển: Tượng-số, Quái-hào, Độ-Số.

NỘI-THIÊN THƯỢNG

Trọng-Ni Mặc-thị Tam-trần Cửu-quái
Quẻ Lý, nền móng cuả đức, tự-quái số-tự là 10, hiểu rõ cách dùng cuả số 10, chỉ bảo con người biết phân-biệt trên dưới.
Quẻ Khiêm là cán cuả đức-độ, tự-quái số-tự là 15, hiểu rõ cách dùng cuả số 15, chỉ bảo con người biết cách bớt thừa bù thiếu.
Quẻ Phục, gốc cuả đức, tự-quái số-tự là 24, bảo khi nào khí bắt đầu biến.
Quẻ Hằng là cái bền vững cuả đức, là quẻ thứ nhì cuả Hạ-kinh, chỉ bảo lúc nào hình-hoá bắt đầu.
Quẻ Tổn là chau dồi đức-dục, quẻ Ích là cái khoan-thai cuả cuả đức-dung, hai quẻ này chỉ bảo cho con người đầu mối cuả thịnh-suy.
Quẻ Khổn là sự xét nét cuả đức-hạnh, quẻ Tỉnh là đất dụng võ cuả đức, chỉ bảo cho con người biết ý-nghiã cuả lẽ cùng-thông.
Quẻ Tốn là chế-nghi cuả đức-tháo. Quẻ Tốn dùng để hành-quyền. Quyền là đại-dụng cuả thánh-nhân. Nhân sự việc chế-nghi, tùy thời mà nghiã cuả biến-dịch đầy đủ vậy.

Bản Đồ Thư I 
Hình 23.18 Bản Đồ Thư I  
Hình trên đây là số cuả trời đất lúc chưa hợp trong long-đồ.
Vị-trí trên là thiên-số, thiên-số chính giữa là số 5, phân làm 2 số 5, 5 x 5 = 25 là thiên-số, tích 1, 3, 5, 7, 9 cũng được 25, năm ngôi dọc ngang thấy 3, 3 ngôi dọc ngang thấy 9, dọc ngang thấy 15. Tự-quái-truyện bảo quán tam-ngũ-cửu, ngoài bao 15. Ngôi dưới là điạ-số, chính giữa điạ-số là số 6, cũng phân thành 5 ngôi, 5 x 6= 30, tích 2, 4, 6, 10 cũng là 30 vậy. Tự-quái-truyện bảo 10 phân  thành 6, tượng hình cuả đất.

Đồ Thư II
Hình 23.19 Đồ Thư II

Hình trên đây là vị-trí cuả thiên-điạ đã hợp trong Long-đồ.
Phần trên là tượng, hợp 1, 3, 5 làm tham-thiên, cặp đôi tứ làm lưỡng-điạ, tích lại làm 15, là sinh-số cuả ngũ-hành. Tức phần trước tượng 5 ngôi trên, 5 ở trên bỏ 4 còn 1, 5  ở dưới bỏ 3 còn 2, 5 bên phải bỏ 2 còn 3, 5 bên trái bỏ 1 còn 4. Duy 5 ở giữa bất-động. Tự-quái-truyện bảo trời 1 ở trên là đạo-tông. Án: Luật-lịch-chí nói: hợp 2 cái bắt đầu để định cương-nhu. 1 là khởi-điêm cuả dương, 2 là khởi-điêm cuả âm. Nay đồ này bên trên là trời, là tượng cuả 1. Bên dưới là đất, là tượng cuả 2, chỗ giữa là tứ-tượng, ngũ-hành vậy. è bên trái mé trên là thái-dương, là tượng cuả hoả.
   Thổ là sung-khí cư trung, để vận-động bốn phương, sướng thủy thi sinh, vừa âm vừa dương.
  mé phải tượng tam-tài, sở dĩ quẻ đơn 3 vạch, thi thiệt-tam (đếm cỏ thi từng 3 cọng một). 
   trái tượng bốn muà, sở dĩ thi thiệt-tứ (đếm cỏ thi từng 4 cọng một), cho nên bên trên tượng 1, 2, 3, 4: thi-số là tượng cuả quái-hào vậy. Hạ-vị là hình vậy: thịnh-số cuả 9, 8, 7, 6, tuợng cuả kim, mộc, hoả, thủy. Ở chính giữa thấy 10, thịnh số cuả đất vậy. Tức: trước tiên, tượng hạ-ngũ-vị, để 6 trung-ương phân-khai, đặt 1 ở trên  6 mà thành 7, đặt 2 ở trên 6 mà thành 8, đặt 3 ở 6 phải mà thành 9.  Duy 6 dưới không phối-hợp mà đứng riêng một mình. Tự-quái-truyện bảo: 6 phân mà thành tứ-tượng, đất 6 không phối-hợp là điều ấy vậy. Án: 7 là cỏ thi tròn, vì 7 x 7 = 49; 8 là quẻ vuông, vì 8 x 8 = 64; 9 là cái dụng cuả hào dương, vì có 192 hào dương; 6 là cái dụng cuả hào âm, vì cũng có 192 hào âm; 10, là số đại-diễn, lấy 5 nhân cho 10, lấy 10 nhân cho 5 cũng đều được 50, do tính giao-hoán cuả phép nhân.
Cho nên các hình 6 mé dưới   là cái dụng cuả thi-số, quái-hào vậy. Trên là thể mà dưới là dụng, trên là tượng mà dưới là hình, tượng động hình tĩrnh, mà tạo-hoá không thể thắng cái đã qua vậy.
          Án: 1, 2, 3, 4 là tượng cuả trời, tượng biến bên trên; 6, 7, 8, 9 là hình cuả đất, hình thành mé dưới. Trên dưới trùng nhau mà làm nên ngũ-hành, ắt trái-phải, trước sau là ngôi cuả sinh-thành vậy. Trên dưới giao nhau, mà tạo ra bát-quái, ắt tứ-chính, tứ-ngung là ngôi cuả cửu-cung vậy. Bây giờ, lấy đồ trước sau mà tham-khảo, đáng như âm-dương nhị-đồ-cục cuả Thái-ất, Độn-giáp. 1, 2, 3, 4 xuất-phát từ Độn-giáp thiên-bàn ở trên. Tùy thời vận-chuyển; 6, 7, 8, 9 xuất-phát từ Độn-giáp điạ-bàn ở dưới, bố-định không đổi phép minh-nghiã cuả thiên-động điạ-tĩnh. Mà trước đây tiên-nho chưa năng phát-chỉ được, bởi chưng 1 tại nam, khởi-phát thiên-tượng, động mà hữu-chuyển. Sơ-giao, 1 cư đông-nam, 2 cư tây-bắc, 3 cư tây-nam, 4 cư đông-bắc, 4 dương ban-bố, cư tả-hữu, 4 âm ban-bố cư bên trái mé dưới, phân âm phân dương, mà trời đất thiết-vị. Tái-giao, 1 cư đông-bắc, 2 cư tây-nam, 3 cư đông-nam, 4 cư tây-bắc, ắt đực cái ngậm nhau, mà 6 quẻ con sinh-hợp làm nhị-biến mà thành tượng tự nhiên cuả tiên-thiên bàt-quái, mà sau mới chồng lên nhau mà sinh thành ngôi, ắt 1-6, 2-7, 3-8, 4-9, âm-duơng mỗi mỗi tương phối-hợp, là đồ mà Thiệu-tử, Chu-tử đã thuật vậy. Tam-giao, 1 cư tây-bắc, 2 cư đông-nam, 3 cư đông-bắc, 4 cư tây-nam, ắt cương-nhu tương-thác mà làm thành khảm, ly, chấn, đoài. Tứ-giao, 1 cư tây-nam, 2 cư đông-bắc, 3 cư tây-bắc, 4 cư đông-nam, ắt hữu dương là âm, mà kiền-khôn dàn hàng, hợp làm nhị-biến mà thành ngôi cuả hậu-thiên bát-quái. Tái-chuyển, ắt 1 phục nơi nam vậy. Chính là cái mà Đại-truyện gọi là 'tham-ngũ dĩ biến, thác tổng kỳ số = Bầy đếm hàng ba, hàng năm cho nó biến, trao đổi đếm tính con số' (Thượng-Hệ X/3). Lưu-Hâm nói: "Hà-đồ, Lạc-thư dựa theo Kinh-vỹ: bát-quái cửu-chương làm biểu-lý cho nhau, đó là thửa nghiã vậy".
          Trong Tưởng Sư Văn, Hạc-điền Đoan-mộc Quốc-Hồ nói: "Điều Hà-đồ thành số ở dưới, tượng đất bất-động, sinh-số ở trên tượng trời vận-hành mà thành quẻ. lấy tiên-thiên bát-quái làm tượng tự-nhiên, hậu-thiên bát-quái làm ngôi tài thành. Xem thửa sơ-giao mà lập lưỡng-nghi, tái-giao mà 6 quẻ con sinh, tam-giao, chấn-đoài ngưỡng-vọng nhau mà khảm-ly hỗ-trạch, tứ-giao mà kiền-khôn dàn hàng, mà chấn-tốn cư ngung. Thánh-nhân thăng quẻ ly nơi phương nam, giáng quẻ khảm nơi phương bắc, mà ngôi cuả bốn phương chính. Đặt kiền nơi phương bắc, thoái khôn nơi tây-nam, mà trưởng-nữ thay nghiã-chương cuả mẹ, ắt tiên-thiên thấy tượng tự-nhiên, hậu-thiên thấy ngôi cuả tài, rất rõ ràng. Tuy thuyết này không bắt rễ từ tiên-nho, nhưng tượng-số đã bầy, mà nghiã-lý sáng rỡ, không phương-hại là lời cuả một nhà". Chu-tử thường nói: "Vô-sự thì khá xem số cuả Hà-đồ, Lạc-thư, vả được tự-gia lưu-chuyển đắc-động". Nay đọc thuyết này cuả Trọng-thuần lại càng tin hơn.

Đồ Thư III
Hình 23.20 Đồ Thư III

      
Trên đây là số thiên-điạ sinh-thành cuả Long-đồ. Đó tức là tiền-đồ 1, 2, 3, 4, là tượng cuả trời; 6, 7,8, 9 là hình cuả đất, tĩnh mà ngôi chính. Cho nên, 1 chuyển cư bắc, để hợp với 6; 2 chuyển cư nam, để hợp với 7; 3 chuyển cư đông để hợp với 8; 4 chuyển cư tây, để hợp với 9; 5 chuyển cư trung mà làm bản lề vận-hành cho trời đất. Đại-truyện nói: 'thác-tổng thửa số' là muốn nói lên điều ấy: thác là giao mà hỗ, 1 trái, 1 phải, 3, 4 qua lại vậy. Tổng là tổng mà xách lên, 1 cúi 1 ngửng, 1 trên 1 dưới vậy. Phân làm hai tầng mà xem, ắt trời động, đất tĩnh, trên dưới nghiã rõ ràng vậy.

Đồ Thư IV
Hình 23.21 Đồ Thư IV
 
          Đồ trên đây là số cuả Lạc-thư thiên-điạ giao-hỗ. Duơng Tử-vân nói: "1 với 5 đồng-tông, 2 với 7 là bầu bạn, 3 với 8 là bạn thân, 4 với 8 là đồng-đạo, coi nhau là quý", chính chỉ đồ này mà nói. Chu-tử điều-tích 6, 7, 8, 9, hợp để làm thành kiền, khôn, khảm, ly mà cư tứ-chính; y-cứ thứ-tự cuả 1, 2, 3, 4 để làm thành cấn, đoài, chấn, tốn mà bổ-sung trống trải cuả tứ-ngung, để hợp với số ấy. Khai rõ ra tượng sinh-thành, xét thửa phân-hợp, tiến lui, giao-trùng, động-tĩnh rõ ràng, tin vào thửa tượng giao-hỗ, mà cái gọi là số đại-diễn chỉ dùng 49, thi-sách phân ra, số quẻ đơn là 8, thiệt thi, quy-cơ tứ-tượng, 7, 8, 9, 6 đều phỏng theo điều ấy vậy.
         
Đồ Thư V
Hình 23.22 Đồ Thư V
 
          Đồ trên đây là tượng Lạc-thư đọc dọc ngang đều là 15.
          Trong Hồng-phạm, thứ nhất là ngũ-hành, thứ hai là kính dùng ngũ-sự, thứ ba là nông-dụng bát-chính, thứ tư là hiệp-dụng ngũ-kỷ, thứ năm là kiến dụng Hoàng-cực, thứ sáu là uy-dụng lục-cực, thứ bẩy là minh-dụng kê-nghi, thứ tám là niệm-dụng thứ-chủy, thứ chín là hưởng-dụng ngũ-phúc, uy-dụng lục-cực. Hán-nho lấy 65 chữ đó làm bản văn cuả Lạc-thư, mà Long-đồ cuả Hi-Di truyền lại ắt lấy các chữ ấy làm tam-biến cuả Long-đồ, lấy Sinh-thành-đồ làm bản văn cuả Lạc-thư, nên ngờ đó là lỗi-lầm truyền tả, mà mở biện-luận Đồ 9, Thư 10. Nay lấy nhị-tượng tráo chỗ, ắt Long-đồ, Quy-thư chẳng cần nghĩ-nghĩ phiền-toái mà tự-động sáng tỏ vậy.
            Đại-truyện nói: "Hà xuất đồ, Lạc xuất Thư, thánh-nhân tắc chi = Đồ hiện ra tại Hoàng-hà, Thư hiện ra ở sông Lạc, thì đấng thánh-nhân áp-dụng theo" (Thượng-Hệ XI/8).
            Khổng An-Quốc nói: "Hà-đồ là Phục-hy làm vua thiên-hạ, long-mã hiện ra ở Hoàng-hà, ắt dựa thửa văn mà vẽ ra bát-quái. Lạc-thư là lúc vua Võ trị thủy, ruà thần  đội văn, bầy trên lưng có số từ 1 đến 9, ban cho Lạc-thư, cho phép bầy ra là cửu-trù vậy. Hà-đồ, Lạc-thư làm kinh-vỹ cho nhau, bát-quái, cửu-chương làm biểu-lý cho nhau".
          Quan Tử-minh nói: "Văn cuả Hà-đồ, 7 đằng trước, 6 đằng sau, 8 bên trái, 9 bên phải. Văn cuả Lạc-thư, 9 đằng trước, 1 đằng sau, 3 bên trái, 7 bên phải, 4 tiền-tả, 2 tiền-hữu, 8 hậu-tả, 6 hậu-hữu".
          Thiệu-tử nói: "Đồ là gì vậy? Lịch-số cuả kỷ chỉ bảo điều chi? Lịch-pháp hợp cái bắt đầu để định cương-nhu, hợp hai cái ở giữa để định luật-lịch, hợp hai cái ở cuối để kỷ nhuận dư. Đó là cái gọi là lịch-kỷ vậy. Châu có 9, tỉnh vuông 900 mẫu, sở dĩ điều-hoạ châu-tỉnh-điạ vậy. Bởi chưng tròn là số cuả Hà-đồ, vuông là văn cuả Lạc-thư, nên Hy-Văn nhân đó mà tạo ra Dịch, Võ-Cơ lượm lặt nó mà làm ra Hồng-phạm vậy".
          Trời số 1, đất số 2, trời số 3, đất số 4, trời số 5, đất số 6, trời số 7, đất số 8, trời số 9, đất số 10. Số trời là 5, số đất cũng 5, năm ngôi cùng tương-đắc mà đều có phối-hợp, số trời là 25, số đất là 30, phàm số cuả trời đất là 55, cái số để làm nên biến-hoá và hành-động như quỷ-thần (Thượng-Hệ IX/1).
          Tiết này phát-minh số cuả Đồ-Thư. Phàm lẻ là dương, dương là số cuả trời; phàm chẵn là âm, âm là số cuả đất. Trời số 1, 3, 5, 7, 9, tích lại thành 25; đất số 2, 4, 6, 8, 10, tích lại thành 30, hợp hai số lại thành 55, trời đất biến-hoá, âm-dương co ruỗi, dấy lên tránh khỏi số ấy. Số ấy bắt đôi là lưỡng-nghi, góp ba là tam-tài, hợp 5 là ngũ-hành, phân ra thành bát-quái, xét tìm làm cửu-cung, đó là đại-khái.
          Chu-tử nói: "Trong trời đất chỉ có một khí mà thôi, phân đôi ắt là âm-dương mà ngũ-hành tạo-hoá, muôn vật chung thủy, không gì là chẳng được quản-trị nơi đó". Nội-kinh nói: "Âm-dương là số có thể là 10, suy ra là 100; đếm có thể là một vạn, độ lớn cuả vạn thể thắng số; đóng khuôn bằng Dịch, ắt chẳng quá trớn, chẳng sót, mà không có gì là chẳng thông".
          Bầy đếm hàng ba, hàng năm để biến, thác-tổng thửa số. Thông thửa biến, thoả thành văn cuả trời đất. Cực thửa số, thoả định-tượng cuả thiên-hạ. Không phải là chí-biến cuả thiên-hạ, thì ai mà làm được như thế? (Thượng-Hệ X/3).
       Tiết này là để phát-minh biến cuả Đồ-Thư. Tham điều tham nơi hai câu hỏi như Lễ bảo: 'ly toạ, ly lập', chớ đi tham vậy cuả tham. Mân-đồ biến như 1, 2, 3, 4, như câu hỏi tham cư 6, 7, 8, 9 vậy. Như điều-động 5 nơi 5 ngôi, như thập-ngũ bộ ngũ cuả ngũ. Mân-đồ biến như 1, 2, 3, 4, 5 nơi đất cuả 6, 7, 8, 9 vậy. Thác là giao mà hỗ, gọi 1 trái, 1 phải. Mân-đồ biến ắt 3, 4 tả-hữu hỗ cư. Tổng là tổng mà xách lên, gọi 1 cúi, 1 ngửng vậy. Đã bầy đếm hàng ba để biến, lại bầy đếm hàng năm để biến, thác mà hỗ đấy, tổng mà giao đấy, mà thành văn cuả trời đất, định-tượng cuả thiên-hạ. Song thế, Hà-đồ, Lạc-thư dạy bảo chí-biến cuả thiên-hạ sao?
          Ngày xưa đấng thánh-nhân làm ra Dịch, sâu kín giúp thần-minh mà sinh ra bói cỏ thi (Thuyết-quái-truyện I/2). Xem biến ở âm-dương mà dựng ra quẻ, phát-huy nơi cứng mềm mà sinh ra hào, hào thuận ở điều nghiã mà lý nơi điều nghiã, xét cùng kỳ lý, bàn hết tính mà đạt tới mệnh (Thuyết-quái-truyện I/3).
          Chương này là đại-chỉ cuả thánh-nhân khi làm ra Dịch, và làm ra bản-nguyên cuả số, quái, hào vậy. 'Sâu kín giúp thần-minh' là muốn nói thánh-nhân trai-giới rửa lòng, khi ở ẩn nơi kín-đáo, mà thần-minh âm-thầm giúp đỡ. 49 cọng cỏ thi dùng để chia đôi, treo, đếm bốn, dành cái lẻ thừa về một bên, mà sinh sách cuả âm-dương, cương-nhu: thiên-số, điạ-số, tham-lưỡng nương tựa nhau, để tỏ rõ tượng cuả 9, 8, 7, 6, nên xem biến nơi âm-dương cuả trời, mà dựng ra quẻ, phát-huy cứng mềm cuả đất, mà sinh ra nghiã cuả hào, hoà thuận ở đạo-đức mà điều-lý sao cho mỗi mỗi đều thích-nghi. Xét cùng hết lẽ âm-dương, cương-nhu cuả trời đất, tận thiện thiên-tính cuả bản thân để tận thiện thiên-tính cuả nhân-vật, đó ắt là cực công chí-thành cuả thánh-nhân vậy.
          Ngày xưa đấng thánh-nhân làm ra Kinh Dịch là để thuận cái lẽ về tính-mệnh, cho nên dựng ra đạo trời là âm với dương, dựng ra đạo đất là cứng với mềm, dựng ra đạo làm người là nhân với nghiã, gồm tam-tài mà gấp đôi lên, cho nên ở Kinh Dịch sáu vạch thành ra quẻ; chia ra âm và dương, cứng mềm dùng đắp đổi, cho nên Kinh Dịch sáu ngôi mà thành chương (Thuyết-quái-truyện II/1).
          Đấng thánh-nhân làm ra Kinh Dịch, thuận lẽ tính-mệnh, đại-để vì người đó mà làm ra vậy. Cho nên xem âm-dương mà lập ra đạo trời. Đạo trời chỉ là lạnh/nóng, ngày/đêm mà thôi. Xét cương-nhu mà lập ra đạo đất. Đạo đất chỉ là sông/núi, sinh/thực-vật mà thôi. Gốc ở nhân-nghiã mà dựng nơi đạo làm người. Đạo làm người chỉ là hiếu-đễ, trung-tín mà thôi. Bởi chưng con người bẩm sinh ở khí âm-dương, lấy chất cương-nhu trời phú cho, lấy hình-thể đầy đủ lẽ nhân-nghiã, lấy thành-tính, khí, hình-chất đầy đủ tính thành, mà đạo tam-tài đầy đủ vậy. Cho nên lấy bát-quái mà nói, ắt ở dưới là đất, ở giữa là người, ở trên là trời, mà có sai-biệt chẵn lẻ, gồm tam-tài mà gấp đôi. Lấy quẻ kép mà nói, ắt hào sơ, hào nhị là đất, hào tam, hào tứ là người, hào ngũ, hào thượng là trời. Phân ra mà nói, hào sơ, hào tam, hào ngũ là ngôi dương, hào nhị, hào tứ, hào thượng là ngôi âm. Dương là cương, âm là nhu, âm-dương, cương-nhu đắp đổi trong sáu hào cuả một quẻ, tương-thúc mà thành văn-chương vậy.
          Kinh Dịch bao la đầy đủ, có đạo trời, có đạo người, có đạo đất, gồm ba tài mà nhân đôi lên, nên thành sáu, số sáu không là gì khác hơn là đạo tam-tài (trời, đất và người) [Hệ-Hạ X/1]. Đạo có biến-động nên gọi là hào, hào có đẳng bực nên gọi là vật, vật lẫn lộn cùng nhau nên gọi là văn, văn chẳng đáng nên sự lành dữ mới sinh ra (Hệ-Hạ X/2).
          Đạo là đạo cuả trời, đất và người. Một âm, một dương cuả trời giao nhau mà thành 5, một nhu, một cương cuả đất giao nhau mà thành 10, 5-10 chồng-trập lên nhau mà thành hào, tên gọi cuả biến-động vậy.
          Hào là bắt chưóc điều ấy vậy (Hệ-Hạ III/3). Đẳng bực là sai-đẳng vậy. Chữ đẳng phủ đầu bộ trúc  là đẳng-trù (trù-tính) vậy. Theo sau chữ thập, chữ nhất là đầu đuôi cuả số vậy. Lấy chẳng kềm mà trù tính đấy, là chỉ nghiã cuả sự việc vậy. Thuyết cũ: chữ đẳng theo sau chữ đẳng, theo nghiã không đúng, nay cải-chính. Động-tĩnh cuả hào có các đẳng bậc sơ, nhị, tam, tứ, ngũ, thượng, có các sai-biệt thất, bát, cửu, lục, mệnh nói rằng vật. Vật là thời-vật vậy. 7, 9 là lẻ, mà phàm vật dương, chất cương đều là kiền cuả vật. 6, 8 là chẵn, mà phàm vật âm, chất nhu đều là khôn  cuả vật. Chia ra mà nói, 9 dương mà 6 âm, 7 cương mà 8 nhu, âm-dương là tượng, cương-nhu là hình. Nên 9, 6 biến mà 7, 8 không biến, hào dùng số 9, 6 chủ biến mà nói. Lại nói: thi-số 7, quái-số 8, thể cuả cương-nhu, sở dĩ lấy kiền-hào dụng cửu, khôn hào dụng lục, sở dĩ cái dụng cuả âm-dương lưu-hành. Âm-dương hợp-đức, cương-nhu hữu-thể, tương-thác mà thành văn. Văn là văn-chương vậy. Chữ văn có dấu chéo (X) là tượng âm-dương giao nhau. Văn mà đáng ắt lành, cư đắc thửa chính, động mà thích-trung ắt hợp với vật-nghi, mà lành sinh ra vậy. Chữ cát có dấu chữ thập () là âm biến ra dương vậy. Có chữ khẩu () là dương biến ra âm vậy. Một chữ hài-thanh, biến-động ở trong, biến mà khắc chính, nên là lành (hội-ý). Kinh Thư nói: "Đức duy một động, làm bậy chẳng lành". Dịch-truyện nói: "Mọi hoạt-động cuả thiên-hạ tụ chính quay về một lẽ phải vậy". Kim-hoa Vương Lỗ-Trai lấy chữ cát để tượng lão-dương xuất thổ. Văn chẳng đáng ắt dữ, cư thất-trung mà chẳng chính, ắt nhập vào hố sâu mà hung sinh ra vậy. Chữ hung () theo sau là biến-động. Động mà hãm trong miệng, ắt mất trung-chính mà hung; hãm là hố, hội-ý. Kim-hoa Vương Lỗ-Trai lấy chữ hung () làm lão-âm nhập-điạ. Nên nói: lành dữ, hối tiếc sinh.
Read more…

Hán Việt dịch lược sử - 26

tháng 2 09, 2018 |
DỊCH BẢN-ĐỒ KHẢO
    


 
Chúng ta ai là chẳng mê hình-học phẳng của ông Euclid như ông Einstein. Tôi tin rằng ai đã thật tâm học Dịch cũng phải mê dịch-đồ. Riêng về sách sở thuộc từ đời Tống đến nay, tôi sưu-tầm và đọc được 17 pho, ngõ hầu lý-giải bản kinh.
Về đồ-thuyết, Đời Đường có: Dịch-đồ 易 圖 cuả Lã-Nham 呂 岩 (798- ?), một đạo-sĩ trứ danh Đời Ngũ-Đại, tức-thị Lã Đồng-Tân, một trong Bát-tiên (Xin xem hai bài ở Phụ-lục). Đời Tống có: Dịch-số Câu-ẩn-đồ     phụ Di-luận Cửu Sự, cuả Lưu-Mục   (1011-64), tự Trường-dân , Đại-diễn Sách-ẩn     cuả Đinh Dịch Đông丁易 , đỗ  tiến-sĩ năm Hàm-thuần thứ tư (mậu-thìn, 1268), Thiên-nguyên Phát-vi    do Bao Vân Long   soạn và Bao Ninh  biện-chính. Đời Nguyên có: Đại-Dịch Tượng-số Câu-thâm-đồ      và Dịch-tượng Đồ-thuyết Nội-thiên Ngoại-thiên       cuả Trương-Lý , tự Trọng-thuần  , Dịch-đồ-thuyết    của Ngô Nhân Kiệt   , Dch-đồ Thông-biến 易圖 cuả đạo-sĩ Lôi Tư-Tề 雷思齊 (1231-1303). Đời Minh có: Lai chú Dịch-kinh Đồ-giải      cuả Lai Tri Đức   , Hoàng-cực Kinh Thế Thích-nghiã      cuả Dư-Bản , tự Tử-hoa  , Nguyên-đồ Đại-diễn 元圖大衍 cuả Mã Nhất Long 馬一龍, Dch-đồ   cuả Điền Nghệ Hoành 田藝衡, Thái-cực Hậu Đồ Thuyết 太極後圖說 cuả Tả-Phụ 左輔. Đời Thanh có Dịch-đồ Điều-biện    cuả Trương Huệ Ngôn  , Ngu-thị Dịch Tiêu-tức Đồ-thuyết       cuả Hồ Tường Lân  , Dịch-đồ Minh-biện     cuả Hồ Vị (1633-1714)  , nguyên-danh là Vị-Sinh 渭生, tự là Khốt-minh 朏明, hiệu là Đông-tiều 東樵, Quái-bản-dồ khảo     cuả Hồ Bỉnh Kiền   , Dịch-quái Đồ-thuyết    của Thôi-Thuật  , Dịch-đồ-lược   cuả Tiêu Tuần  , Hà Lạc Tinh-uấn      cuả Giang Thận Tu   , Dịch Đồ-giải   của Đức-bái Tế-Trai    . Đầu Đời Dân-quốc có: Dịch Tiết   và Dịch-số Ngẫu Đắc 易數偶得cuả Hàng Tân-Trai 杭辛齋, Thích Trịnh-thị Hào-thần Bổ 鄭氏爻辰補, và Hào-thần Biểu 辰表 cuả Từ-Ngang 徐昂. Ngày nay ta cũng có: Dịch kinh đích Đồ dữ quái       cuả Tiến-sĩ Diêm Tu Triện   , Chu Dịch dữ Dịch-đồ      cuả Lý Thân  , Dịch-Đồ Thám Bí 易圖探秘 cuả Trương Kỳ-Thành 張其成, Chu-Dịch Đồ-thích Đại-Điển 周易圖釋大典 cuả nhóm Thi-Duy 施維, Chu-Dịch Tượng-số Lệ-giải 周易象數例解 cuả Vương Đình Chi 王亭之, tên thật là Đàm Tích-Vĩnh 談錫永   

                                         
                           Hình 23.01 Bát-quái Bản-tượng Đồ

Hình 23.02 Lục-thập-tứ Quái Viên-Phương Đồ

Tưởng cũng nên nói ngay rằng: Dịch theo cấu-trúc 'chồng' (stack) với quy-tắc LIFO (Last IFirst Out), nên khi xủ quẻ mới xủ từ dưới xủ lên và khi vạch quẻ trong các Viên-đồ bao giờ cũng vạch từ tâm vạch ra, đúng như lời Thiệu-tử. : "     Đồ giai tự trung khởi (Đồ đều khởi từ tâm)" (xem Hình 23.01 và 23.02). Do đó bao giờ hào già hơn, cũ hơn cũng ở dưới (hoặc ở trong) và hào trẻ hơn, mới hơn bao giờ cũng ở trên (hoặc ở ngoài), như ta thấy trong Phương-đồ (hoặc Viên-đồ) biệt-quái Tiên-thiên (Hình 23.02), giống như mô mộc-thiêm (yearly rings) trong thân cây, không những lớn từ trong ra mà còn cho biết khí-hậu cuả từng năm một. Vì lẽ đó ; phải là thiếu-âm và < phải là thiếu-dương, đúng theo sách vở chính-thống Á-đông. Chính vì Tiền Huyền Đồng, Phùng Hữu Lan nhầm lẫn nên các học-giả đông tây cũng như các khoa-học-gia sinh-học phân-tử cuả tây-phương lẫn đông-phương, cả tin hai ông nên đã nhầm lẫn thống-hệ (systematic error). Khi làm tính nhân, ta viết kết-quả từ phải sang trái nhưng lại đọc kết-quả bằng số từ trái sang phải. Tương-tự, khi lập quẻ ta lập từ dưới lập lên nhưng khi đọc tên quẻ ta lại đọc từ trên đọc xuống. Do đó trong số nhị-phân mỗi biệt quái chữ số nhị-phân cao-trị nhất (mostsignificant bit tức msb) bao giờ cũng nằm bên trái và ứng với Hào Sơ (bottommost line), còn chữ số đê-trị nhất (least significant bit tức lsb) bao giờ cũng nằm bên phải và ứng với Hào Thượng (topmost line). Tỷ như quẻK sẽ viết thành 1110002 = 708 nhưng lại đọc là Điạ Thiên Thái.  
Ta biết rằng nhân-trung (sash) là chỗ lõm chính giữa môi trên. Theo sách tướng, nhân-trung dài 1 tấc (4 cm), thọ trăm tuổi. Chắc quý-độc-giả còn nhớ chuyện Đông Phương Sóc cười trước mặt Hán Vũ-đế về vụ ông Bành-tổ nhân-trung dài 8 tấc (Sử-ký). 
Sách "Chuyết Canh Lục   ", cuả Đào Định-Nghi 陶定儀, mục nhân-trung, có thuật lại chuyện ông Tiền-đường Trần Giám Như   chuyên vẽ truyền-thần, nổi tiếng một thời. Một hôm ông vẽ xong chân-tượng công-tước Triệu-văn Mẫn, bèn đem tranh đến trình. Ông này lẳng lặng với bút sửa lại một chỗ nom chưa chỉnh. Nhân đó ông cắt nghiã tại sao môi trên lại là chính giữa con người thay vì lỗ rốn. Bởi chưng từ môi trên giở lên, hốc mắt, lỗ tai và lỗ mũi đều là lỗ đôi; còn từ nhân-trung giở xuống, miệng và nhị-tiện đều là lỗ chiếc. Ba vạch âm ở trên, 3 vạch dương ở dưới thành quẻ Điạ Thiên Thái K vậy. Điều này rất quan trọng khi ta xét Bát-quái Trung-thiên bên dưới (Hình 23.05):
 
23.03                       23.04                           23.05                     23.06
        Bát-quái                   Bát-quái                       Bát-quái                 Bát-quái
       Tiên–thiên                 Hậu-thiên                    Trung-thiên           Chung-thiên

Tiên-thiên là chuyện trên trời (23.03),
Hậu-thiên dưới đất (23.04), cõi người Trung-thiên (23.05).
Kiếp người vốn dĩ Chung-thiên (23.06)!
Thoạt nhìn vào Hình 23.6 ta có cảm-tưởng như 2 quẻ Chấn '  và Cấn -nằm trên trục hoành đã 'vượt biên' (tịnh-tiến) từ mép trái vòng tròn sang mép phải vòng tròn. Kỳ thực, vòng tròn tượng-trưng trái đất, nên mọi quẻ đều đầu đội trời, chân đạp đất, và quẻ Chấn phải quay quanh tâm vòng tròn một góc ±π mới biến thành quẻ Cấn được.   
Trong Tiên-thiên Bát-quái, 4 quẻ Kiền, Đoài, Ly, Chấn là dương vì mang trị-số đại-số dương (+3, +2,  +1, +0); 4 quẻ Tốn, Khảm, Cấn, Khôn là âm vì mang trị-số đại-số âm (-3, -2, -1, -0).
Do đó ta có thể suy Trung-thiên Bát-quái từ Tiên-thiên Bát-quái bằng cách quay mỗi quẻ một góc  ± π/4, với dấu biểu-thị âm dương của quẻ và n là số hào dương của quẻ dương hay số hào âm của quẻ âm. 
Khi biến Trung-thiên Bát-quái ra Hậu-thiên Bát-quái, 4 quẻ Nam Kiền, Khảm, Cấn, Chấn nhất dương sinh không đổi chỗ cũng như quẻ Ly là quẻ chỉ-nam cho 8 quẻ hậu-thiên. Khôn lấy chỗ của Tốn, Tốn lấy chỗ của Đoài, Đoài lấy chỗ của Khôn (hoán-vị vòng tròn). 
Ngược lại, Trung-thiên-đồ 'trọng nam khinh nữ', nên khi chuyển từ Hậu-thiên Bát-quái sang Trung-thiên Bát-quái, 4 quẻ 'Nam' bất-di-dịch, trong khi 4 quẻ 'Nữ' phải xê dịch sao cho tìm lại đối-xứng xuyên-tâm tiên-thiên đã biến mất trong Hậu-thiên, vận-hành theo muà.
Ta có tóm tắt đặc-tính các quẻ Trung-thiên-đồ trong biểu nhất-lãm sau đây :
 
Bảng 23.1  Biểu Nhất-lãm  Bát-quái Trung-thiên
Sau hết, Chung-thiên Bát-quái, suy ra từ Tạp-quái-truyện của Khổng-tử, đối-xứng Thác-Tổng qua trục hoành và có thể nhớ bằng câu:
                     Bên này Kiền, Khảm, Chấn, Ly,
                   Bên kia Tốn, Cấn nữa thì Đoài, Khôn.
Ta có thể dùng hình-học để suy Chung-thiên Bát-quái từ Hậu-thiên Bát-quái bằng cách giữ quẻ Chấn ' Nhất dương sinh cố-định, còn 7 quẻ kia đều quay một góc ± 3π/4, với dấu biểu-thị âm-dương tiên-thiên của quẻ đương-quan. 
Đối với tất cả các tiểu-viên-đồ này, mặt phẳng cuả chúng thuộc loại Bó Thớ (Fiber bundle), nghiã là 8 quẻ không nằm trong một hình vành khăn mà lại nằm trên một Dải Möbius, như các khinh-tử (leptons) vậy. Nói khác đi, 2 quẻ kề nhau sẽ có khoảng cách góc là 900 thay vì 45như thường-lệ. Chung quy chúng trực-giao với nhau. Nếu chúng ta sắp xếp 8 quẻ cuả bất-kỳ tiểu-viên-đồ nào, chúng ta thấy 2 quẻ kề nhau thực-sự trực-giao với nhau. 
Thành thử ra, bề mặt trái cuả Quán là một cửa sổ 6 Hào cuả quẻ hiện-lưu (current hexagram). Hoặc giả là một Hoàn đụp quan quách mà vành ngoài có cửa sổ hình vòng cung với khẩu-độ là 3π/16.  Nói cách khác, Quán là một xâu (Chữ Nho quán  cũng đọc là xuyến).  
Dưới đây là biểu-thị cuả tứ-tượng, bát-quái, thập-lục-sự, lục thập-tứ-quái dưới hai dạng tứ-giác hoặc toàn-võng:
  
Hình 23.7 Hình 23.8 Hình 23.9 Hình 23.10 Lục-thập-tứ quái Hình 23.11Toàn-võng

Toàn-võng là một mạng có đỉnh tự-quy tức thị bát-quái đụp và có các cạnh là 56 biệt-quái. Đặc-điểm ở đây mỗi hào chỉ cần biểu-thị bằng 1 bit. 
Chú-thích Hậu-thiên Bát-quái thay đổi tùy theo tác-giả. Ví-dụ, theo Phí-Trực, ta có Dịch-đồ sau đây:
Hình 23.12 Hậu-thiên Bát-quái cuả Phí-trực
Từ Hình 23.12 này, ta có thể suy ra bảng đặc-tính dưới đây: 
Quẻ đơn
Kiền
Khảm
Cấn
Chấn
Tốn
Ly
Khôn
Đoài
Phương
 hướng
Tây
Bắc
Chính
Bắc
Đông
Bắc
Chính
Đông
Đông
Nam
Chính
Nam
Tây
Nam
Chính
Tây
Tứ-đức 1

Trinh

Nguyên

Hanh

Lợi
Tứ-đức 2

Trí

Nhân

Lễ

Nghiã
Hành
Kim
Thủy
Thổ
Mộc
Mộc
Hoả
Thổ
Kim
Bát-tiết
Lập-
Đông
Đông-
Chí
Lập-
Xuân
Xuân-
Phân
Lập-
Hạ
Hạ-
Chí
Lập-
Thu
Thu-
Phân
Điạ-bàn
Tuất
Hợi
Sửu
Dần
Mão
Thìn
Tỵ
Ngọ
Mùi
Thân
Dậu
Tính-chất
Dương-
Thủy
Dương-
Sinh
Dương-
Hình

Âm-
Thủy
Âm-
Sinh
Âm-
Hình

               Bảng 23.02    Ý-nghiã Bát-quái Hậu-thiên cuả Phí-Trực

Hình 23.13 Bát-quái Bản-tượng Đồ

Ông Trịnh Hợp-Sa nói: Kiền ba vạch liền tượng trời để ngậm ba; khôn ba vạch đứt để tượng đất, ba đôi thành sáu. Bản-số là trời 1, đất 2; bản-hoạch là trời lẻ, đất chẵn.

Chưa giao nhau đã biết diệu-lý ở chỗ 1 ngậm 3, 2 ngậm 6 vậy. Kiền ! 1 ngậm 3 nên sách cuả 3 nam-quái đều lẻ: chấn ', khảm +, cấn - đều là 5 cả; khôn / 2 ngậm 6 nên sách 3 nữ-quái đều chẵn: tốn ), ly %, đoài # đều 4 cả. Đấy là lý sinh-thành cuả trời đất, chẳng cũng kỳ-diệu ru? Chấn vi lôi, lôi xuất từ dưới đất, nên một vạch dương ở dưới cùng. Khảm là thủy, thủy thấm  trong đất, nên một vạch dương ở chính giữa. Cấn là núi, núi nhô lên khỏi mặt đất, nên một vạch dương ở trên cùng.

Nhưng mà dương động, âm tĩnh. Khi lấy động làm gốc, nên chấn động vậy. Khi lấy tĩnh làm gốc, nên cấn chỉ vậy. Khi động ở chính giữa, không trong, không ngoài, nên hoặc chẩy hoặc ngừng, hoặc động hoặc tĩnh, sở dĩ khảm là thuỷ vậy. Tốn là mộc, cây mọc từ dưới mặt đất mọc lên, nên một vạch âm ở dưới cùng. Ly là hoả, lửa cháy ra từ trong gỗ nên đặt một vạch âm ở giữa. Đoài là chằm, chằm nằm trên mặt đất nên một vạch âm ở trên cùng. Nhưng âm nhu mà dương cương, nên gỗ lúc đầu mềm sau cứng: vạch dương ở gốc vậy. Dương sáng mà âm tối, nên ly mới ngoài sáng trong tối, vì dương bao bên ngoài. Dương khô mà âm ẩm ướt, vì dương ở trong. Hoặc hỏi: chằm trong khô vì sao? Đáp: trong khô ắt năng sinh kim, ngoài ẩm ướt ắt năng sinh thủy.  Kim sở dĩ năng sinh thủy, thổ sở dĩ năng sinh kim, tức nhờ chằm mà biết vậy. Thánh-nhân có cẩu thả bao giờ.

Hình 23.14 Đế Xuất Chấn Đồ
Hi-di nói: ngôi chính xứng phương, chấn đông, ly nam, đoài tây, khảm bắc; tứ-duy gọi là ngôi, nên cấn đông-bắc, tốn đông-nam, kiền tây-bắc; chỉ một mình khôn xưng là đất, bởi vì tám phương đều quán-thống nơi đất. Đoài nói là chính-thu, mà không đề-cập phương-vị, đơn-cử chính thu, ắt chủ thời cuả bốn phương là tứ-chính. Có thể loại-suy. Ly xưng 'tương-kiến' vì muôn vật đều trông thấy nhau nơi đó. Đoài xưng 'duyệt ngôn' vì luận rằng chính-thu không phải là lúc muôn vật vui vẻ gì, duy muốn lấy đoài-thể là chằm. Cấn xưng 'thành ngôn' vì thể cuả cấn chung chỉ muôn vật, không có nghiã là sinh thành. Nay lấy nghiã sinh thành sơ-ngôn vì cấn ở dần. Khôn thêm chữ 'trí' ('trí dụng'), vì khôn trí-dụng nơi kiền.
          Chúng ta đã duyệt qua phép Đọc Dịch. Nay xin ôn lại Phép đọc ấy xuyên qua ba Dịch-đồ dưới đây:
Hình 23.15 Độc Dịch Đồ I
 
Dịch Thượng-Kinh 30 quẻ, Hạ-Kinh 34 quẻ, thoạt trông vào tưởng không cân bằng. Kỳ thực, Thượng-kinh từ Truân-Mông đến Vô-võng-Đại-súc, Hạ-kinh từ Hàm-Hằng đến Hoán-Tiết cũng như Ký-tế-Vị-tế, hai quẻ chỉ kể làm một vì chúng tương-tổng (lật ngược quẻ này sẽ được quẻ kia trong cặp). Tám quẻ còn lại, quẻ nào kể quẻ nấy, vì chúng tương-thác (1’s complement). Thành thử ra, Thượng-kinh và Hạ-kinh đều có 18 quẻ, và Toàn-kinh gồm 36 quẻ tức thị cái Thiệu-tử gọi là Tam-thập-lục-cung đô thị xuân. Chính giữa là tám quẻ bát-thuần : hàng trên là bốn chính-quái (Kiền, Khôn, Khảm, Ly), còn hàng dưới là bốn tạp-quái (Di, Đại-quá, Trung-phu, Tiểu-quá), bởi chưng Trong Kinh có 8 quẻ tương-thác là : Kiền, Khôn, Di, Đại-quá, Khảm, Ly, Trung-phu và Tiểu-quá. Tám quẻ tương-thác này nằm bên trong vòng tròn.
      Trong hình 23.15, thì An theo phương-vị Tiên-thiên bát-quái để vẽ nên Viên-đồ sao cho 8 thượng-quái giữ nguyên vị-trí tiên-thiên cố hữu định-vị
Thế mới hay là  âm-dương thuận-nghịch suy-vi, mà khảm-ly tất giao-hỗ để làm dụng, sinh nhân thành thánh. Ở hình này, thượng-hạ phản-đối-số cũng là 9.

Hình 23.16 Độc Dịch Đồ II
 
Trong Hình 23.16, cho 8 quẻ tương-thác cuả Bản-kinh chen lẫn nhau, để vẽ thành Viên-đồ: thượng-hạ 8 quẻ dương đều ở trên,  thượng-hạ 8 quẻ âm  đều ở dưới, bởi chưng dương-khí khinh-thanh nổi lên trên, còn âm-chất trọng-trọc ngưng ở dưới. Phản-đối-số đều là 9 : các quẻ đối-đỉnh, cộng số cuả thượng-quái với nhau, cộng số cuả hạ-quái với nhau.
          Trong Hình 23.17, các quẻ tương-thác xuyên-tâm đối từng đôi một.

 

Hình 23.17 Độc Dịch Đồ III
Read more…